Mẹ và con

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thị Thêu
Ngày gửi: 09h:59' 05-05-2024
Dung lượng: 567.3 KB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Bùi Thị Thêu
Ngày gửi: 09h:59' 05-05-2024
Dung lượng: 567.3 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
MẸ VÀ CON
NGUYỄN MỘNG GIÁC
*******
MỤC LỤC
1/- Bóng tối buổi trưa
2/- Tên đào ngũ
3/- Ngựa đá sang sông
4/-Gió hú
5/- Mẹ và con
6/- Nước cạn, hoa lau
7/-Tiếng đàn thầm
8/- Ông cháu
BÓNG TỐI BUỔI TRƯA
Từ phòng hồi sức, tôi được đưa qua trại 10. Giường của tôi nằm ngay
trong góc phía trái, nơi trú ẩn của bóng tối, của ẩm mốc và của đàn muỗi
đói khát. Cho nên mỗi lần thấy có người lạ mặt bước vào phòng dớn dác
nhìn quanh, chính tôi phải lên tiếng trước họ mới tìm ra. Vả lại, cả hai
chân tôi băng bột, cánh tay trái treo trên đỉnh mùng, mặt mũi băng bông
trùm kín, thì có thánh mới nhận ra thằng Liêu ba hôm về trước.
Sáng nay, anh y tá vừa đến lấy nước tiểu đem lên phòng thí nghiệm, thì
một người đàn ông lạ mặt, đeo kính lão tóc hớt ngắn có cái mũi đỏ sần sùi
đến tìm tôi. Chắc có người chỉ dẫn trước nên ông ta xăm xăm tiến tới chỗ
tôi nằm, cúi chào rồi tự giới thiệu:
"Tôi là phó chủ tịch nghiệp đoàn công nhân xây cất".
Tôi bỡ ngỡ không biết phải trả lời thế nào, thì ông ta đã tự kéo cái ghế sắt
gần đấy ngồi xuống cạnh giường. Ông ta nói:
"Cụ chủ tịch cử tôi lo vụ này. Sáng nay tôi có ra đảo. Tôi có bắc thang leo
lên xem xét cánh tay của pho tượng. Thật không ngờ..." Ông phó chủ tịch
dừng lại, ý chừng để chờ tôi lên tiếng hỏi, hoặc biểu lộ sự tò mò hiếu kỳ
lên nét mặt. Nhưng ông ta quên rằng cái mặt tôi đã bị băng kính và loang
lổ thuốc đỏ, còn cách nào đâu mà biểu lộ. Chờ một lúc, ông ta đành nói:
"Anh biết không, cánh tay cầm gươm của pho tượng gãy ngay chỗ cùi chỏ.
Cốt sắt bên trong nhỏ tí teo, gãy là phải. May nhờ có mấy vòng dây thép
gai lão thầu quấn quanh thanh sắt cho ăn vữa, nên cả cánh tay lớn không
rơi xuống. Nếu không, anh đã tan xương ngay tại đảo rồi. Lão thầu tham
lam muốn lời cho nhiều, mới xảy ra cớ sự. Tuy cánh tay tượng chưa rơi
trúng anh, nhưng vì phải tránh né mà anh lăn xuống sườn đồi. Đây là một
tai nạn lao động. Nghiệp đoàn sẽ kiện lão thầu ra toà, đòi bồi thường
xứng đáng cho anh..."
Tôi chán nản không trả lời. Ông phó chủ tịch cầu chúc qua quít một vài
câu nhạt nhẽo rồi ra về.
Ông ta vừa đi được mười phút, thì Thương đến. Không ai chỉ dẫn cho
nàng cả nên tôi vừa hồi hộp vừa lo âu nhìn nàng lăng xăng hỏi hết người
này sang người nọ trong trại 10. Tôi không muốn gặp nàng lúc này, khi
thân tàn ma dại đến độ chỉ còn là cái xác ướp kỳ dị trong các ngôi mộ cổ
Ai Cập. Tuy thế, Thương vẫn tìm đến chỗ tôi nằm. Nàng để rơi thân hình
nhỏ nhắn lên chiếc ghế sắt, hai bàn tay mềm ấm nắm lấy cánh tay phải
của tôi. Nàng nói, giọng lạc đi, run run vì xúc động:
"Anh, anh tha tội cho Thương. Đã nhiều lần em nói với anh là xin anh
hiểu giùm hoàn cảnh của Thương. Em không thương anh, thì còn thương
ai nữa. Anh là đời sống của em, là hơi thở, là thịt xương, là... là tất cả đời
em. Có anh thì em vui, không có anh, đời em còn gì nữa đâu. Tối hôm đó
em không ra biển được, vì nhà có kỵ. Em quên, không cho anh biết".
Tôi gắng xoay người lại nhìn Thương. Tội nghiệp cô bé. Đôi mắt cô bé,
nhờ ánh sáng yếu ớt chiếu từ cửa sổ bên kia, đầy ắp sự hối hận, thương
xót, đau đớn, lo sợ. Nàng tưởng chính nàng là người chịu hoàn toàn trách
nhiệm của tai nạn. Tôi muốn cải chính. Nhưng vết thương bên má làm
cho tôi đau đớn. Có lẽ miệng tôi hơi méo lại khi muốn nói, trông như tôi
đang mếu. Thương khóc oà lên:
"Thà như vậy. Em chỉ sợ anh lạnh nhạt với em, nằm im không nói năng.
Anh hiểu cho em không anh Liêu. Hiểu giùm cho em đi. Thú thực nhiều
lúc thấy anh thương em quá, em phát sợ. Mắt anh chỉ toàn lửa và lửa. E
mình có đáng gì đâu. Em đã nhắc lại câu ấy nhiều lần mà anh không chịu
nhớ. Bây giờ em nhắc lại lần nữa: Em xấu xí, nghèo nàn, còn nhiều cái tầm
thường nữa. Em có đáng gì đâu mà vừa sai hẹn tối hôm trước, sáng hôm
sau anh đã liều thân thế này".
Tôi không biết nói gì, sợ xua mất chút nắng đẹp trong tâm hồn cô bé. Tôi
bóp nhẹ lên bàn tay mềm của Thương, ra dấu hiểu nàng và cảm ơn.
Thương xúc động lắm, đưa khăn tay lên lau nước mắt. Rồi nàng lột cam
cho tôi ăn. Tuy nước chua làm rát vết thương trong lưỡi, tôi vẫn cảm thấy
tất cả sự khoái lạc bệnh hoạn. Lúc ăn đến múi cam chót, tôi cố rướn
người lên hôn nhẹ lên hai ngón tay Thương.
Nàng vui sướng, ngồi kể chuyện huyên thiên, hết chuyện nhà cửa đến
chuyện mấy đứa em trai tinh nghịch. Nếu anh y tá không trở lại, chắc
nàng còn sa đà nói mãi nói mãi. Chờ Thương ra khỏi phòng, anh y tá mới
bảo:
"Anh đưa tay phải tôi lấy thêm vài xê xê máu. Thật phiền. Họ bắt chúng
tôi thử đủ thứ: nào nước tiểu, nào máu, nào phân, nào nước miếng... Anh
chỉ bị gãy xương và xây xát khắp mình mẩy, bệnh đã rõ, việc gì phải lôi
thôi".
Tôi cố dằn đau đớn, phều phào hỏi:
"Thử làm gì mà thử hoài vậy?"
Y tá thấy tôi nói được, có lẽ vui mừng vì tìm ra người tri âm, liếng thoắng
giải thích:
"Anh biết làm sao không? Đây là tôi nghe lỏm được trên phòng quản đốc.
Anh đừng kể lại cho ai nghe nhé. Hãng bảo hiểm của nhà thầu muốn khỏi
mất tiền, đến năn nỉ xin bác sĩ xác nhận xem có phải anh mắc một chứng
nan y nào đó, hoặc anh có máu điên trong người hay không. Ông ta bảo:
từ chỗ pho tượng đến mé vực khá xa, không thể bảo như bên nghiệp
đoàn là vì né tránh mà anh rơi xuống sườn đá dốc. Chỉ còn có một cách
giải thích: anh mắc chứng nan y mà tự vận, hay có máu điên trong người,
chúng tôi phải thử đi thử lại hoài, chỉ vì vậy".
Anh y tá đã lấy máu xong, cầm ống nghiệm và xê ranh đứng dậy. Thấy tôi
nhìn theo, anh bông đùa:
"Anh có điên không, nói quách cho họ biết, để họ khỏi hành hạ tụi tôi".
Người y tá đi rồi, tôi nằm hoang mang cả buổi sáng. Ừ, vì sao mình làm
thế? Mình có điên có khùng đây? Khi nào bình phục và lãnh tiền bồi
thường xong tôi cũng phải kể lại sự thực, để tự tôi bồi thường cho tôi một
chút danh dự. Tôi sẽ kể sự thực. Sự thực đại khái như thế này, vì tôi chưa
dám chắc những điều tôi biết, những hình tôi thấu, những tiếng tôi nghe.
Buổi trưa hôm đó, trời nắng gắt lắm. Pho tượng coi như đã hoàn thành, vì
toán thợ mười hai người chúng tôi đã gắng quét một lớp xi măng mỏng
bên ngoài suốt cả buổi sáng. Ông chủ thầu cười nói hỉ hả, hẹn đem xôi và
thịt quay ra cúng mừng rồi đãi chúng tôi một bữa nhậu no nê vào bốn giờ
chiều. Ăn xong, dọn dụng cụ đồ đạc về phố luôn thể. Ông chủ vào đất liền
rồi, các bạn tôi không biết làm gì, gọi một chiếc thuyền đánh cá đến xin
quá giang vào bến. Tôi cảm thấy bực bội điều gì không rõ. Có thể vì
Thương không đến chỗ chiếc ghế đá dưới bãi cát tối hôm trước, bắt tôi
phải bồn chồn đợi nàng suốt ba giờ liền. Cũng có thể vì tôi nhức đầu vì
hơi bị cúm, không được khỏe lắm. Anh em mừng rỡ khi nghe tôi nhận lời
chịu ở lại đảo giữ đồ đạc.
Cả bọn đi rồi, tôi ngồi bó gối dưới chân tượng. Từ mỏm núi nhìn ra, biển
xanh tiếp nối đến tận chân trời. Trên cao mây đã bay đi, còn lại bầu trời
trong xanh và một mặt trời hực lửa. Chung quanh tôi, những tảng đá
nhọn loang lổ rêu xám, những bụi ốc mèo cằn cỗi gai đâm tua tủa, những
viên sỏi tròn nhẵn vì lăn lóc biết bao lần trong khoảng thời gian vô tận.
Tôi chói mắt vì mặt trời. Tôi ngộp trong bao la. Cảm thấy nghẹn thở vì sự
đìu hiu cũng mênh mông chẳng kém gì trời và nước.
Tôi núp mát
dưới bóng pho tượng, nhìn bâng quơ ra phía trước mặt nhưng chỉ thấy
những hình ảnh mờ nhạt, hỗn độn sắc vàng chói và màu xanh dương.
Chán nản. Tôi hối hận đã tình nguyện ở lại đảo. Ray rứt, tôi muốn làm
một cái gì cho qua thì giờ. Không có lấy một tờ báo, một quyển sách. Tôi
đến gần chỗ bờ vực, kề sát bên một vách đá dựng đứng xuôi tuột xuống
bể sâu. Tưởng tượng mình rơi tõm xuống đây, chìm vào hư vô, tôi cảm
thấy sợ hãi vội lùi lại. Phía tay phải sườn núi khá dốc. Tôi đá hất một viên
sỏi dưới chân. Viên sỏi rơi vào thung lũng dưới kia, lặng lẽ vô nghĩa như
một làn gió thổi qua đỉnh núi trọc, không tạo nổi một tiếng vi vu hay một
tiếng lá xì xào.
Trời trở về chỗ pho tượng, vô tình nhìn xuống bóng mình di động trên
mặt đất phẳng. Tôi tìm ra được một thú tiêu khiển.
Tôi đứng thu mình lại cho bóng tôi chập vào chân phải của pho tượng.
Rồi tôi lại sang đứng bên phía chân kia. Tay trái pho tượng thả xuôi bên
hông. Tôi ngồi xuống, cho bóng tôi giống như một món đồ Đức Trần
Hưng Đạo mang theo khi ra trận. Bóng của tôi tròn vo, giống y một cái
đầu lâu. Một cái đầu của giặc Nguyên mà vị anh hùng dân tộc vừa dùng
gươm chém lìa khỏi cổ. Ý tưởng đó khiến tôi lạnh xương sống, vội choàng
đứng dậy. Tôi đi dần ra mé núi, đứng ngay nơi bóng mũi gươm. Tôi trở
thành một tên phù thủy, có phép khinh công lão luyện nên đứng được
chênh vênh trên mũi gươm một vị anh hùng. Bóng tôi vươn cao hơn cả
bóng tượng.
Tôi cười lên thích thú. Tiếng cười vang ra, vọng lại từ vách núi đá, nghe lạ
hoắc. Tôi thử cười a ha lần nữa, lần này to hơn lần trước. Tiếng vọng
dõng dạc. Vách núi dựng phía sau lưng, thung lũng màu xanh pha nâu
phía tay phải, bờ đá cheo leo sụp đột ngột xuống mặt biển xanh trước
mặt và phía trái. Chung quanh đây chỉ có cao, sâu, rộng, lớn. Chỉ có vĩnh
cửu, bao la mênh mông, thăm thẳm. Tôi đứng ở giữa. Bóng tượng đổ thấp
bên dưới. Chợt nhớ đến phim Tarzan coi thời thơ ấu, tôi bắt hai bàn tay
làm loa, ráng hú thật lớn thật dài như vị chúa tể rừng xanh Phi châu.
Tiếng hú vang vọng qua bao nhiêu vách đá, làm lung lay mấy bụi ốc mèo
cằn cỗi trên đồi, và xao động cả mặt sóng xanh. Quá thích thú, tôi hú tiếng
thứ hai, rồi tiếng thứ ba. Cổ tôi bắt đầu rát. Đến khi hú xong tiếng thứ
năm, nhìn xuống mặt đất trước mặt, tôi giật mình sững sờ. Hình như
bóng pho tượng đang cử động, Không tin ở mắt mình, tôi cố lấy hết sức
bình tĩnh nhìn kỹ một lần nữa. Phải rồi, hình như cánh tay cầm gươm của
Ngài cử động, bóng lưỡi gươm càng ngày đưa sát vào cái bóng bé nhỏ của
tôi. Kinh hãi đến cùng cực tôi ngước lên nhìn pho tượng. Quả nhiên, tôi
đã không lầm. Ngài đang từ từ hạ gươm xuống, gân cốt Ngài kêu răng rắc
và từng mảng xi măng trên áo giáp của Ngài rơi tơi tả trên mặt đất. Mắt
tôi nhìn chăm chăm vào lưỡi gươm. Hai tay tôi đưa lên cao che lấy đầu,
trong khi chân tôi tự động lùi lại, lùi lại dần, cho xa cho thoát khỏi lưỡi
gươm thiêng của Ngài. Đến lúc chân bước hụt vào khoảng không, và bị
lăn xuống thung lũng, tôi không còn biết rõ điều gì nữa.
Có lẽ giờ đây chỉ còn lại một điều, một điều hồ nghi: Phải chăng tiếng hú
chất chứa bao nhiêu phẫn uất dồn nén trong cuộc sống đìu hiu của tôi,
tiếng hú giữa nơi chỉ có mây và đất đá cỏ cây vô tri, đã vô tình phạm đến
danh dự Ngài. Và Ngài đã giận dữ hạ dần lưỡi gươm bén.
Hết
TÊN ĐÀO NGŨ
Chiếc GMC chở quan tài đậu sát vào mái tôn, quay đít vào gần cửa ra vào.
Lá quốc kỳ bị gió bay, nên lệch sang một phía, để lộ hông quan tài gỗ tạp
sơn một lớp dầu bóng đỏ ối. Người tài xế mở xe nhảy xuống, nói trỏng
vào phía buồng lái:
"Xuống đi! Phải ở lại đây tối nay rồi. Trời tối, ai dám qua truông".
Bốn người lính ở phía sau nhanh nhẹn leo qua hông, đạp một chân lên
bánh xe cao su, nhảy mạnh xuống nền xi măng. Bụi đỏ bay mù từ mấy bộ
quần áo xốc xếch lem luốc. Có tiếng trẻ con khóc phía đầu xe. Người đàn
bà mặt mày ốm gầy và lạc thần, đầu quấn khăn tang, thò đầu hướng về
phía nhà tiền chế nói lớn:
"Mấy chú làm ơn mở cho cánh cửa. Nặng quá".
Một người lính đi lại phía bên phải xe, gắng hết sức mới mở bật được
cánh cửa, rồi đưa tay dìu hai mẹ con xuống. Một tay ẵm đứa nhỏ độ một
tuổi, một tay xách cái giỏ ni lông, người đàn bà phải để mặc cho anh lính
đỡ hai nách, cẩn thận bước xuống bậc thang, rồi chậm rãi vào trú dưới
mái hiên. Đứa nhỏ ngơ ngác nhìn chung quanh, nhận diện từng người, rồi
lại khóc lên từng hồi. Người đàn bà ngồi bệt trên nền trại, lấy bình sữa
bằng nhựa núm vú vàng xỉn nhét vào miệng đứa bé. Nó núc vài ngụm, ậm
ừ như muốn nghẹn nước, rồi quay đầu nhả vú ra khóc tiếp. Người đàn bà
sợ làm phiền ông Chỉ huy trưởng, vội vã bồng con ra đứng dưới mấy gốc
dương liễu lá rũ. Tân hỏi mấy người lính đang tiếp tục giũ bụi:
"Bị ở đâu đó?"
"Trên Phú Nhơn".
"Chở về đâu?"
"Miệt ngoài Bồng Sơn. Bây giờ đã sáu giờ chiều, qua truông sao nổi".
Toán lính trực thoả mãn tò mò, lảng đi xa. Bốn người lính lạ hỏi Tân chỗ
câu lạc bộ, rồi đi theo hướng Tân chỉ. Người tài xế mở nắp đầu máy kiểm
soát dầu nhớt và bu-gi, rồi cũng đi theo bốn người lính hộ tống. Một lúc
sau, một người bưng ra cho người đàn bà dĩa cơm và chai xá xị, xong vội
vã quay trở lại câu lạc bộ. Đứa bé bây giờ đã hết khóc, nằm ngủ lả trên vai
mẹ. Người đàn bà bồng con vào trong mái hiên, liếc nhìn lên quan tài thúc
thít khóc, rồi ngồi trên nền trại lơ đãng xúc cơm ăn. Gió bên ngoài bỗng
thổi mạnh bốc bụi mù mịt, trong khi đêm chầm chậm trở về. Lúc ông
Thượng sĩ nhẹ nhàng bước chậm cho ngọn nến khỏi tắt, leo lên xe gắn lên
nắp quan tài, Tân hỏi:
"Tối nay toán nào gác cầu, Thượng sĩ?"
"Toán hai".
"Ủa, sao tụi nó không cho tui hay".
Ông Thượng sĩ đứng trên xe, không thèm quay mặt lại, gắt gỏng:
"Mầy đi ghẹo gái cho đã rồi về hỏi lôi thôi. Có lấy đồ đạc ra lô cốt mau lên
không? Cho mấy củ bây giờ".
Tân chạy vội về phòng trực. Người đàn bà vẫn ngồi chỗ cũ, biếng nhác
nhai cơm, hờ hững nhìn mông lung về phía bóng tối trước mặt. Phòng
trực không còn ai. Bóng đèn điện góc phòng lung lay theo gió. Khẩu M.16,
cái mũ sắt, và tấm pon-cho của Tân còn bỏ lại trong góc tối.
Tân đội mũ sắt lên, trí óc ràng buộc vào cái rọ trách nhiệm. Sợi dây nịt
đạn quấn quanh bụng chặt chẽ như quân kỷ. Đôi giày nặng bó cổ chân,
níu trì gân cốt như muốn chôn sâu người lính đời đời kiếp kiếp xuống
giao thông hào, sau lỗ châu mai, trong hầm lô cốt. Chỉ có khẩu súng là nhẹ
nhàng, đong đưa trong vòng ngón trỏ, tự do như chiều đạn đạo.
Một mùi hôi gay gắt trộn lẫn hương nhang thổi vào chỗ Tân ngồi. Bóng
người đàn bà ôm con nổi hẳn trên nền sáng do ngọn đèn pha phía bên kia
trại. Tân lẩm bẩm:
"May tối nay mình ra cầu. Không thì nằm đây lãnh đủ".
Lúc ra đến cổng trại, một trận gió mạnh thổi ào ngăn cả bước Tân đi. Tân
đưa tay dụi mắt. Bên trong hàng rào, có tiếng trẻ khóc. Khi nước chảy ra
trôi hết bụi và mi mắt hết cồm cộm xốn xang, nhìn trở vào trong, Tân
thấy ngọn nến trên nắp quan tài đã tắt.
Tín chửi thề:
"Đ.M. bây giờ mới ra. Lính cậu hả?"
"Thôi mà người anh em. Lão thượng sĩ đã cho anh lãnh đủ rồi. Nỡ nào
người anh em còn nặng tay".
Rồi chuyển sang giọng bình thường, Tân bảo:
"Đã phân công chưa?"
"Rồi, mầy gác ca bốn".
"Với ai?"
"Tao không nhớ. À, hình như với thằng Liễn".
"Tụi nó đâu rồi?"
"Giặt quần áo phía bến đò. Mầy làm gì cả buổi chiều nay không thấy mặt".
"La cà lai rai vậy mà. Đầu tháng dư tiền, không có sao".
"Nói giọng cha không. Sao không nằm luôn trong trại cho bảnh?"
"Hôi không chịu nổi".
"Cái gì?"
"Cái xác. Có một con bị trận Phú Nhơn, vợ lên lãnh về. Trời tối không dám
qua truông, nên GMC chở vào gởi tạm đằng trại".
Tín nói sang chuyện khác:
"Tao mới mua được cái cát-xét Hitachi".
"Bao nhiêu?"
"Chín ngàn. Nghe thử không?"
Tín mở máy. Giọng một nữ ca sĩ danh tiếng nỉ non, tha thiết:
"Các anh đi, ngày ấy đã lâu rồi. Các anh đi biết bao giờ trở lại. Xóm làng
tôi trai gái vẫn chờ mong. Làng tôi nghèo nho nhỏ trên sông. Gió bấc lạnh
lùng thổi vào mái rạ. Làng tôi nghèo, nắng mưa tơi tả, trai gái trong làng
vất vả ngược xuôi..."
Tân đưa tay tắt máy:
"Nghe mùi quá. Nhưng đâu phải tụi mình. Nói chuyện tụi nó ngày trước
mà".
Tín cãi:
"Thì áp dụng cho tụi mình cũng được, có sao đâu. Này này: Các anh về
mái ấm nhà êm, câu nói tiếng cười rộn ràng trước ngõ. Mình đi hành
quân tảo thanh đem lại an ninh cho đồng bào. Mặt bên kia còn một bài
mới. Chờ một chút tao cuộn băng trở lại đã".
Tân lấy thuốc hút, nhìn xuống bãi cát chân cầu. Anh hỏi:
"Đêm nay có trăng không?"
"Có, mười bảy ta mà".
"Vậy là đỡ khổ rồi. Tao gác ca tư, trăng sách quắc, đố đứa nào dám bén
mảng tới chân cầu".
Tín đã sang băng xong, mở máy trở lại:
"Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại. Xin trả lời, xin trả lời mai mốt
anh về... Anh trở về hàng cây nghiêng ngả, anh trở về có thể bằng hòm gỗ
cài hoa. Anh trở về, trên chiếc băng ca, trên trực thăng sơn mầu tang
trắng..."
Tân lại đưa tay tắt máy, lầm bầm:
"Thôi. Để yên nghe nước chảy còn hơn".
Anh ra phía cầu, đái xuống dòng sông đen. Tín nói lớn:
"Mầy tục tĩu quá, không hiểu sao tụi con gái mê mầy".
Tân gài nút quần, trả lời:
"Tao khơi đúng chỗ ngứa giấu kín sau cái mặt nạ ngoan ngoãn con nhà,
sau cái vỏ mỏng ngây thơ. Còn tụi bay thì cả tin, nên hỏng hết".
Rồi không muốn dây dưa tranh luận, Tân bảo:
"Tao đi tắm một chút. Tụi nó trở lại, mầy nói giùm là tao đã ra rồi".
Tân trở lại đầu cầu, giở vòng dây thép gai chui qua bên kia. Con đường
mòn dốc xuôi xuống bãi cát phía dưới. Lá dứa gai cứa vào ống quần vải
dày, chỉ nghe rào rào. Thích thú, thách đố, an tâm, Tân dẫm bừa lên gai
góc, bước nhầu lên mấy bụi ốc mèo, không thèm theo lối mòn quanh co
mình rắn. Mấy khóm dứa đen quì mọp dưới gót, sau lưng. Một cây gai
ngang ngạnh đâm thủng lần vải, Tân thót người đau đớn, tức giận quật
mạnh báng súng lên bụi đen, rồi dẫm mạnh gót giày trên đó mà đi. Vài
nhánh khô gãy rụm, dòn tan.
Qua hết khóm gai thì đến bờ cát. Đã quen lối đi, Tân dừng lại bên một
khóm cây rậm. Anh lấy nắp nhựa đậy họng súng M.16 lại, rồi cắm súng
giấu sâu vào bóng tối. Đôi bàn tay bất chợt rảnh rang, trở thành ngượng
nghịu. Theo thói quen, Tân đưa tay lên vai định gỡ dây súng trước khi
ngồi lên mô đất. Anh lầm bầm chửi thề, thấy mình lú lẫn quên trước quên
sau. Đôi bàn tay vẫn còn vụng về, mấy ngón cử động láu táu không biết
phải làm cái gì. Tội nghiệp! Chúng nó không quen ở không. Cho nên bàn
tay nầy nắm ngón tay bàn tay kia bẻ lốp rốp, rồi bàn tay kia bẻ trả.
Trước mặt, bãi cát vàng nhờ nhờ chạy dài ra đến tận bờ nước đen, và Tân
nhớ rõ mặt cát mịn đến nỗi bước chân lên trên, làm da chân mỏng vẫn có
cảm giác êm ái bình thường như được ấp ủ trìu mến bằng lớp vải lên dày.
Tân ngồi xướng mô đất, dây nịt đạn chằng ngang bụng, cọ mạnh vào
xương sườn.
Bỏ mặc quân trang và vũ khí gần khóm cây. Tân định đi xuống bờ cát,
nhưng nghĩ sao, bèn quay trở lại. Trăng đã lên tự lúc nào, chiếu rõ cái mũ
sắt, dây nịt đạn, đôi giầy thô, và cả báng súng nhựa. Anh giấu đồ đạc cẩn
thận hơn, cho bóng tối che khuất rồi tiện tay cởi luôn bộ quần áo treillis
nặng nề hôi hám. Tân chỉ còn mặc một cái quần đùi và cái áo lót. Gió lùa
vào khe nách, ống quần, thổi dậy niềm khoan khoái, bùng lên khát vọng
tự do.
Tân nhảy xuống lòng cát, tung tăng chạy khắp mọi hướng. Trăng mỉm
cười. Gió mơn man. Cát hôn ấm lòng chân. Trời cao và đất rộng mời gọi.
Sự sống man rợ, điên cuồng ngây ngấy đưa bước chân thoăn thoắt, đưa
đôi tay vung mạnh lướt tới, nghiêng nghiêng mặt người để hứng thuận
chiều gió. Bàn tay đưa ra trước mặt chờ đón mà không nắm bắt, hy vọng
mà không tham lam, để gió mát và ánh vàng lọt qua mấy ngón. Tân chạy
nhảy, không cảm thấy mệt nhọc thoả thuê, và lúc đứng dừng lại, vẫn còn
thấy lòng mình trống không để tiếp tục góp thu cái diệu vợi vô cùng của
đất trời vào lòng.
Anh chạy theo bờ nước trong. Chân đạp rào rạo trên sỏi nhỏ ven sông,
nước bắn tung lên mát dịu ống chân và bắp vế. Lúc chạy về phía trăng
lên, bọt nước toả sáng quanh mình, rơi vang trên bãi, như các tia nước
phun trong công viên thành phố.
Tân chạy thẳng theo đường nước cạn, rồi lại uốn mình ngoằn ngoèo như
hình rắn, hết dậm chân trên cát ấm lại dậm chân xuống nước róc rách
mát rợi. Trong một bước lơ đãng, anh bước vào một hố sâu. Tân ngã
xuống, nước ngập nửa người. Trăng mờ đi vì một đám mây vô tình. Anh
hốt hoảng nghĩ:
"Không biết có đứa nào thấy chỗ mình giấu súng không? Đã tới ca gác của
mình chưa?"
Anh ngồi xuống cát, và bây giờ mới cảm thấy mỏi rần khắp người. Gót
chân rát vì bị chà xát quá nhiều. Gió tăng thêm lạnh trên bộ quần áo ướt.
Bóng cầu đen đủi choàng tay qua hai bờ xa tít, tham lam trơ trẽn.
Một trái hoả châu từ quận lỵ bắn lên, chiếu mầu đỏ kè bệnh hoạn mặt
sông, rồi tắt lịm để lại một vệt khói lững lờ dưới trăng.
Có tiếng kẻng đổi ca từ trên cầu vọng xuống. Tân cố nhíu mày đọc mấy
chữ số trên đồng hồ. Chưa tới phiên mình! Gió lạnh lẽo, Trăng nhợt nhạt.
Nước rên rỉ. Bóng tối ma quái. Trong một cử động đột ngột cương quyết,
Tân quăng cái đồng hồ rơi tõm xuống dòng sông đen. Tiếng vọng khích
động cảm giác, và anh bắt đầu chạy như điên trên bãi, lội mạnh xuống
dòng sông cho đến lúc nước ngập quá gối và chạy trở lên tận bờ cỏ ướt
dọc theo doi cát.
Khi chạy như thế đến vòng thứ ba, vừa từ bờ cát trở về con nước, Tân đã
thấy có bóng người ngồi lặng ở đấy rồi.
Bóng một người con gái.
*
Trăng đã lên quá ngọn tre xóm Đông hơn một con sáo. Ánh trăng viền
khuôn mặt người con gái, cho Tân thấy đôi mắt mở lớn hướng về phía
ánh sáng và đôi môi cười. Mái tóc dài chìm trong nền tối, nhưng dáng
người in rõ trên mặt cát ướt. Hai bàn chân cô gái ngâm dưới nước sông,
khuấy động róc rách. Gió vẫn dịu dàng. Cát vẫn câm nín. Trăng cười lặng.
Chỉ có nước nhột nhạt vì bàn chân khuấy động, không thôi rúc rích thích
thú. Nửa như chế giễu nửa như thúc giục. Mồ hôi loãng theo gió thổi, làm
Tân lành lạnh da cổ và xương sống. Tân hỏi:
"Làm gì ngồi đây?"
Cô gái không trả lời, không quay lại. Một lúc sau, cô mới hỏi lại:
"Làm gì mà chạy như ngựa chứng? Có say không?"
"Ra ngồi đây lâu rồi à? Sao tôi không thấy?"
"Say rồi thấy sao được?"
"Chiều nay tới phiên gác cầu, không dám nhậu".
"Thiếu gì thứ say. Đâu phải chỉ có rượu. Say hơi đất. Say hơi lá. Say trăng,
say mây. Say sưa hơi ấm của cát, say cái rúc đầu nhột nhạt của nước trên
mặt da..."
Tân ngăn lại:
"Nói thật hay nói giỡn đó?"
"Thật chớ. Tân không thấy tôi ngâm chân xuống nước à?"
Tân lạnh mình, há hốc mồm không nói được gì. Một lúc sau mới hỏi lấp
lửng, e dè:
"Sao biết tên tôi?"
"Dễ ợt. Chú ý tìm hơi thì phải ra. Chỉ cần hỏi mấy cô thợ may ngoài chợ".
Tân sợ thực sự. Xương sống ớn lạnh. Tân hỏi, giọng ấp úng:
"Cô ngồi chỗ nào? Bàn máy góc bắc hay gần bên nhà hát bộ?"
"Ơ hơ. Em có làm thợ may đâu. Nhưng em có một con bạn làm thợ may
biết anh nhiều..."
Tân vội vàng hỏi:
"Tên gì?"
"Thôi, nói chi thêm rắc rối. Gia đình em làm nghề câu gõ. Sõng cột dưới
gốc cây lớn kia kìa".
"Vậy cô lên đây ngồi làm gì?"
"Bắt người ta bơi dưới nước hoài sao? Cho lên bờ một chút không được
à?"
"Sao không được. Ai dám cấm. Nhưng tôi muốn hỏi sao dám lên ngồi đây
một mình".
"Cha đi lên bờ mua đá đèn. Với lại, đâu phải chỉ có một mình..."
Tân dớn dác nhìn quanh, hối hận đã không mang súng đến tận bờ nước.
Phải gắng bạo dạn lắm, Tân mới hỏi được:
"Sao các bạn cô không ra mặt? Sao không ra ngồi nói chuyện cho vui?"
"Chuyện gì? Có nói anh cũng không hiểu".
"Sao vậy?"
"Anh nghĩ bạn em là ai?"
"Làm sao biết được. Mấy cô thợ may ngoài chợ này. Mấy cô bán cá này.
Mấy cô hái rau muống trên cầu này".
"Không phải. Lâu lâu em mới lên bờ mua cước với nước mắm. Mỗi lần
cha đi chợ, em phải ở lại giữ sõng".
"Sao khi nãy bảo quen với mấy cô thợ may ngoài chợ?"
Cô gái không trả lời, lấy chân quấy động mặt nước. Tân đánh bạo hỏi:
"Bạn em đang ở trên sõng dưới kia phải không? Mời họ ra nói chuyện đi".
"Bạn em à? Chúng nó đâu biết nói".
"Cái gì lạ vậy?"
"Cha lầm lì cả ngày. Trừ những lúc nói gióng một sai em gỡ lưới, gõ cây,
cha em không nói gì hết. Em buồn tìm bạn nói chuyện cho qua ngày. Em
nói với mấy con cá này..."
Tân ngắt ngang:
"Nói với cá?"
"Chớ sao. Em an ủi nó. Trông cái bụng trắng phau, cái vẩy óng ánh bạc,
đôi mắt trong, dễ thương lắm, mà cũng tội nghiệp nữa. Nhiều lần em gặp
mấy con cá nhỏ lưng xanh, vây pha hồng dãy dụa trong lưới như van xin.
Em lén cha thả lại xuống sông. Em không biết nó lội về hướng nào, nhưng
chắc chắn nó biết ơn em nhiều. Buổi trưa cha cột sõng dưới gốc cây ven
bờ nằm ngủ. Em thả chân xuống nước chơi. Chú cá thoát nạn hôm trước
trở lại mơn man gặm chân em. Chắc nó đến cảm ơn".
Tân tò mò thích thú, quên nỗi sợ hãi ban nãy, hỏi:
"Có bao giờ gặp Long cung thái tử không?"
"Anh nói sao?"
"Có gặp Long cung thái tử không?"
"Thái tử nào đâu?"
"Em không hiểu à? Dưới nước có một cung điện nguy nga, trong điện
cũng có một ông vua nước trị vì, gọi là Long vương. Con ông vua gọi là
Thái tử. Mỗi lần đi chơi đây đó ở bờ biển bến sông, thái tử mang hình con
rùa mai xanh, con cua mu đỏ..."
Cô gái vỗ tay cười, rồi hỏi mau:
"Thái tử có hoá thành cá không?"
"Có".
"Như vậy là em đã gặp Thái tử rồi. Một hôm em gỡ lưới được con cá mình
xanh biếc, vây màu đỏ và trắng. Cả cha cũng không biết tên cá gì. Hai cái
râu trước mép dài như sợi tơ. Em thả nó xuống nước trở lại. Mãi đến con
trăng sau, em đang ngồi nhúng chân xuống nước thế nầy thì có con cá
nhỏ đến gặm chân nhột nhột. Em mê mải nhìn trăng quá nên lúc nhìn
xuống nước, mắt loà đi, không trông thấy gì. Em chỉ thấy một giải vàng
trước mặt như con đường đất trải giữa sông. Em đứng dậy, em bước tới,
bước tới nữa. Hình như nước rẽ hai bên vì em không cảm thấy ướt át.
Mãi đến khi nước ngập tới cổ, em mới tỉnh hẳn và vội vàng bơi lại phía
sõng. Chắc Thái tử mời em đến Long cung quá".
Tân vội ngồi xa hơn, nhìn chăm chăm vào mặt cô gái. Đôi mắt cô vẫn sáng
long lanh dưới trăng. Cái miệng vẫn cười, và cả khuôn mặt trẻ thơ bộc lộ
một trạng thái lơ lững giữa đất và trời, ánh sáng và bóng tối, cõi thực và
cõi tưởng. Cảm thấy khoảng cách giữa hai người đã đủ an toàn Tân mới
hỏi tiếp:
"Hèn gì. Bây giờ anh mới hiểu. Em ngâm chân dưới nước đợi bạn về?"
"Đêm nay nó không tới. Nhưng không sao. Em nói chuyện với người
khác".
"Lỡ không có anh thì sao?"
"Thiếu gì bạn. Nước này. Cát này. Trăng này".
Tân không khỏi tò mò, chồm đến gần hỏi thật rõ:
"Nước biết nói à?"
"Nó chỉ nói nhỏ thôi. Khi buồn thì thì thầm. Khi vui thì rúc rích. Chỉ có
dưới chân cầu là ồn ào. Lính họ rào dây thép gai, rác rến bám vào làm
thành cái đập. Nước chảy xiết, kêu ồ ồ. Không đời nào em thèm lên đến
gầm cầu".
Tân nhớ đến nhiệm vụ:
"May dữ a. Đêm hôm mà em mon men đến đó, lãnh đủ có khi".
"Lính họ bắn à?"
"Sao không? Họ tưởng em là Việt cộng phá cầu".
"Em có làm gì đâu? Gặp em, anh có bắn không?"
"Lớ xớ đến gần cầu, bắn liền".
"Ai thèm tới đó làm gì. Anh cũng ồn ào như nước dưới chân cầu".
Lúc bấy giờ, một áng mây làm mờ bầu trời. Tân giật mình nhìn về phía
Tây. Bóng cầu vẫn đen thui, tham lam ôm hai bờ xa tít. Khi trăng sáng trở
lại, ánh loà trên sông che hẳn dấu cầu.
*
Trăng lên đến đỉnh đầu. Bóng hai người vây tròn chỗ ngồi. Trăng bớt lóe
sáng trên mặt nước, nhưng bãi cát vàng óng và trở nên mênh mông. Mặt
nước sông trong xanh, có thể nhìn thấy tận đáy cát. Cô gái từ lâu cầm lấy
tay Tân, và lần đầu anh cảm thấy hơi ấm chuyền sang từ năm đầu ngón
tay mềm. Anh nhìn chăm chú hơn: cổ tay tròn, thân người mập lẳn, ống
quần đen ướt dán chặt vào hai đùi, đôi bàn chân trắng. Cô gái tự nhiên lo
sợ rút bàn tay về. Tân nói:
"Đừng chờ thái tử nữa. Hãy nói chuyện với anh".
"Nói cái gì?"
"Chuyện làm ăn. Một ngày em lưới được bao nhiêu cá? Bán được bao
nhiêu tiền?"
"Không nói. Để anh nói trước".
"Nói cái gì?"
Cô gái cười thật ranh mãnh:
"Chuyện làm ăn. Anh đi lính thì nói chuyện lính".
"Đi lính đâu phải nghề làm ăn?"
"Sao không? Như nghề câu gõ có khác gì đâu? Lưới được bao nhiêu? Bán
được bao nhiêu?"
Tân nhìn thẳng vào mặt cô gái xem muốn hỏi thật hay nói đùa. Nét mặt
vẫn có cái vẻ trống vắng mà tham dự như trước. Tân chậm rãi trả lời:
"Nghề anh không có thả lưới rồi gõ cây rượt cá".
"Cha em cũng có làm vậy. Mấy hôm trời tối, ổng lấy đèn đá soi xuống
sông, dùng đọc đâm cá. Em ngồi đầu sau lo chèo. Nhiều khi em vô ý chèo
trệch một chút, sõng xoay ngang. Cha đâm trật, ổng la om sòm".
Tân trầm ngâm nhưng cô gái lại cười ròn rã. Tân bị lôi cuốn, cười theo.
Cô gái hỏi:
"Sao bây giờ không chạy như ngựa chứng nữa đi?"
"Bỏ em ngồi một mình, thái tử rước đi mất uổng lắm".
"Anh ra đây giỡn trăng hay đi tắm?"
"Quên mất. Ra đi tắm".
"Sợ nước à? Cho ướt luôn, chịu không".
Không chờ trả lời, cô gái lội ra giữa dòng tạt nước lên chỗ Tân ngồi. Hai
người tạt nước nhau, tiếng cười làm rạng rỡ đêm khuya. Thông thạo hơn,
cô gái tạt từng tia nước mạnh đúng vào mặt Tân, khiến anh phải mất thì
giờ vuốt mặt. Nhưng anh vẫn theo tiếng cười đuổi theo. Cô gái quen chạy
trên cát, luôn luôn vuột khỏi tầm tay Tân. Đôi lúc anh sắp chụp được bả
vai, nhưng cô đã hạ mình xuống, luồn về phía khác, làm cho Tân quá đà
ngã lên bờ nước.
Tân vẫn cố rượt theo. Nhờ bước hỏng vào lũng cát sâu, cô gái ngã, Tân
mới theo kịp. Gió và nước không làm nguội được sức nóng bừng bừng.
Tân úp mặt lên cổ cô gái, dụi mặt vào trong tóc ngửi mùi hôi và rong rêu.
Cô gái vẫn cười, hàm răng trắng óng ánh, đôi mắt long lanh, đôi tay trải
dài trên cát làm phập phồng lồng ngực. Không nói năng gì, Tân ôm lấy
thân thể ấm áp, sống trọn sự cuồng bạo dã thú. Miệng cô gái vẫn cười,
nhưng đôi mắt nhắm nghiền, đôi tay chới với. Cả gió cả nước cả trăng
đồng lòng thúc giục, trong khi cát vàng ấp ủ nâng niu.
Khi ngồi lại trên cát nhìn khuôn mặt cô gái mắt vẫn còn nhắm nghiền như
đứa bé ngủ say, Tân ngờ ngợ thấy quen. Nhưng không nhớ đã gặp cô ta
lúc nào, ở đâu!
*
Lúc mấy người quân cảnh đẩy lên xe, chiếc GMC vẫn còn đó chưa đi. Hai
tay bị khoá quặt ra sau, nên phải chật vật lắm Tân mới bước lên được cái
bậc cấp, rồi cúi người luồn ra ra ngồi băng sau. Mấy người lính đứng bên
ngoài không cần giữ ý, hỏi nhau:
"Bắt được thằng chả ở đâu đó?"
"Tận bãi cát gần khúc quanh của con sông".
"Chắc xuống dưới an ninh trả lời không xuôi đâu. Cả tiểu đội chết, cây cầu
sập, chỉ còn có một mình chả đi tắm".
"Nghe mìn nổ trên cầu mà cứ tắm à?"
"Không. Toán tiếp viện theo đường sông vòng lên, gặp nó đang bận quần
áo và lấy súng chạy về".
Tân ngồi im không nói năng gì. Phía trước xe, một nhóm người đang tụ
tập quanh mấy cái xác. Có tiếng khóc nỉ non và kể lể rên la. Bỗng nhiên
đám đông dạt cả ra, tránh lối cho lính khiêng một cái băng ca đi vào.
Nhiều tiếng lao xao:
"Một người nữa hả?"
"Đâu phải lính. Xác đàn bà".
"Dễ sợ. Ngực bị vỡ toang hết. Lượm ở đâu đó, trung sĩ?"
"Bến chài. Lúc tụi tôi bọc hậu đón đầu bọn du kích, thì thấy nó hớt hải
chạy từ phía cầu về. Hô đứng lại, nó cũng cứ chạy, nên mới nổ súng. Nếu
biết là nó, thì không giết làm gì".
"Vậy chớ ai đó?"
"Con khùng xóm Chài".
"Con khùng xóm Chài hay con khùng ngoài chợ?"
"Cả hai đứa là một. Nó là con gái ông câu gõ. Cha nó chết cách đây mấy
năm. Nó xin ăn ngoài chợ, và hễ cứ đến mùa trăng là nổi cơn".
Tân nghe được câu chuyện, lịm người không dám nhìn về phía trước. Bên
cửa trái, người tài xế xe GMC đang xem lại máy móc trước khi lên đường.
Bốn người lính hộ tống đã lên ngồi hai bên quan tài. Người tài xế đậy nắp
ca bô, gọi với vào trong:
"Ra đi cho sớm chị".
Người đàn bà ẵm đứa con ra xe. Mái tóc bù xù. Cái áo trắng vải thô và
vành khăn tang nhàu nát, dơ dáy. Lúc đi ngang qua xe quân cảnh, người
đàn bà vô tình nhìn vào phía Tân.
Anh không tin ở mắt mình...
NGUYỄN MỘNG GIÁC
*******
MỤC LỤC
1/- Bóng tối buổi trưa
2/- Tên đào ngũ
3/- Ngựa đá sang sông
4/-Gió hú
5/- Mẹ và con
6/- Nước cạn, hoa lau
7/-Tiếng đàn thầm
8/- Ông cháu
BÓNG TỐI BUỔI TRƯA
Từ phòng hồi sức, tôi được đưa qua trại 10. Giường của tôi nằm ngay
trong góc phía trái, nơi trú ẩn của bóng tối, của ẩm mốc và của đàn muỗi
đói khát. Cho nên mỗi lần thấy có người lạ mặt bước vào phòng dớn dác
nhìn quanh, chính tôi phải lên tiếng trước họ mới tìm ra. Vả lại, cả hai
chân tôi băng bột, cánh tay trái treo trên đỉnh mùng, mặt mũi băng bông
trùm kín, thì có thánh mới nhận ra thằng Liêu ba hôm về trước.
Sáng nay, anh y tá vừa đến lấy nước tiểu đem lên phòng thí nghiệm, thì
một người đàn ông lạ mặt, đeo kính lão tóc hớt ngắn có cái mũi đỏ sần sùi
đến tìm tôi. Chắc có người chỉ dẫn trước nên ông ta xăm xăm tiến tới chỗ
tôi nằm, cúi chào rồi tự giới thiệu:
"Tôi là phó chủ tịch nghiệp đoàn công nhân xây cất".
Tôi bỡ ngỡ không biết phải trả lời thế nào, thì ông ta đã tự kéo cái ghế sắt
gần đấy ngồi xuống cạnh giường. Ông ta nói:
"Cụ chủ tịch cử tôi lo vụ này. Sáng nay tôi có ra đảo. Tôi có bắc thang leo
lên xem xét cánh tay của pho tượng. Thật không ngờ..." Ông phó chủ tịch
dừng lại, ý chừng để chờ tôi lên tiếng hỏi, hoặc biểu lộ sự tò mò hiếu kỳ
lên nét mặt. Nhưng ông ta quên rằng cái mặt tôi đã bị băng kính và loang
lổ thuốc đỏ, còn cách nào đâu mà biểu lộ. Chờ một lúc, ông ta đành nói:
"Anh biết không, cánh tay cầm gươm của pho tượng gãy ngay chỗ cùi chỏ.
Cốt sắt bên trong nhỏ tí teo, gãy là phải. May nhờ có mấy vòng dây thép
gai lão thầu quấn quanh thanh sắt cho ăn vữa, nên cả cánh tay lớn không
rơi xuống. Nếu không, anh đã tan xương ngay tại đảo rồi. Lão thầu tham
lam muốn lời cho nhiều, mới xảy ra cớ sự. Tuy cánh tay tượng chưa rơi
trúng anh, nhưng vì phải tránh né mà anh lăn xuống sườn đồi. Đây là một
tai nạn lao động. Nghiệp đoàn sẽ kiện lão thầu ra toà, đòi bồi thường
xứng đáng cho anh..."
Tôi chán nản không trả lời. Ông phó chủ tịch cầu chúc qua quít một vài
câu nhạt nhẽo rồi ra về.
Ông ta vừa đi được mười phút, thì Thương đến. Không ai chỉ dẫn cho
nàng cả nên tôi vừa hồi hộp vừa lo âu nhìn nàng lăng xăng hỏi hết người
này sang người nọ trong trại 10. Tôi không muốn gặp nàng lúc này, khi
thân tàn ma dại đến độ chỉ còn là cái xác ướp kỳ dị trong các ngôi mộ cổ
Ai Cập. Tuy thế, Thương vẫn tìm đến chỗ tôi nằm. Nàng để rơi thân hình
nhỏ nhắn lên chiếc ghế sắt, hai bàn tay mềm ấm nắm lấy cánh tay phải
của tôi. Nàng nói, giọng lạc đi, run run vì xúc động:
"Anh, anh tha tội cho Thương. Đã nhiều lần em nói với anh là xin anh
hiểu giùm hoàn cảnh của Thương. Em không thương anh, thì còn thương
ai nữa. Anh là đời sống của em, là hơi thở, là thịt xương, là... là tất cả đời
em. Có anh thì em vui, không có anh, đời em còn gì nữa đâu. Tối hôm đó
em không ra biển được, vì nhà có kỵ. Em quên, không cho anh biết".
Tôi gắng xoay người lại nhìn Thương. Tội nghiệp cô bé. Đôi mắt cô bé,
nhờ ánh sáng yếu ớt chiếu từ cửa sổ bên kia, đầy ắp sự hối hận, thương
xót, đau đớn, lo sợ. Nàng tưởng chính nàng là người chịu hoàn toàn trách
nhiệm của tai nạn. Tôi muốn cải chính. Nhưng vết thương bên má làm
cho tôi đau đớn. Có lẽ miệng tôi hơi méo lại khi muốn nói, trông như tôi
đang mếu. Thương khóc oà lên:
"Thà như vậy. Em chỉ sợ anh lạnh nhạt với em, nằm im không nói năng.
Anh hiểu cho em không anh Liêu. Hiểu giùm cho em đi. Thú thực nhiều
lúc thấy anh thương em quá, em phát sợ. Mắt anh chỉ toàn lửa và lửa. E
mình có đáng gì đâu. Em đã nhắc lại câu ấy nhiều lần mà anh không chịu
nhớ. Bây giờ em nhắc lại lần nữa: Em xấu xí, nghèo nàn, còn nhiều cái tầm
thường nữa. Em có đáng gì đâu mà vừa sai hẹn tối hôm trước, sáng hôm
sau anh đã liều thân thế này".
Tôi không biết nói gì, sợ xua mất chút nắng đẹp trong tâm hồn cô bé. Tôi
bóp nhẹ lên bàn tay mềm của Thương, ra dấu hiểu nàng và cảm ơn.
Thương xúc động lắm, đưa khăn tay lên lau nước mắt. Rồi nàng lột cam
cho tôi ăn. Tuy nước chua làm rát vết thương trong lưỡi, tôi vẫn cảm thấy
tất cả sự khoái lạc bệnh hoạn. Lúc ăn đến múi cam chót, tôi cố rướn
người lên hôn nhẹ lên hai ngón tay Thương.
Nàng vui sướng, ngồi kể chuyện huyên thiên, hết chuyện nhà cửa đến
chuyện mấy đứa em trai tinh nghịch. Nếu anh y tá không trở lại, chắc
nàng còn sa đà nói mãi nói mãi. Chờ Thương ra khỏi phòng, anh y tá mới
bảo:
"Anh đưa tay phải tôi lấy thêm vài xê xê máu. Thật phiền. Họ bắt chúng
tôi thử đủ thứ: nào nước tiểu, nào máu, nào phân, nào nước miếng... Anh
chỉ bị gãy xương và xây xát khắp mình mẩy, bệnh đã rõ, việc gì phải lôi
thôi".
Tôi cố dằn đau đớn, phều phào hỏi:
"Thử làm gì mà thử hoài vậy?"
Y tá thấy tôi nói được, có lẽ vui mừng vì tìm ra người tri âm, liếng thoắng
giải thích:
"Anh biết làm sao không? Đây là tôi nghe lỏm được trên phòng quản đốc.
Anh đừng kể lại cho ai nghe nhé. Hãng bảo hiểm của nhà thầu muốn khỏi
mất tiền, đến năn nỉ xin bác sĩ xác nhận xem có phải anh mắc một chứng
nan y nào đó, hoặc anh có máu điên trong người hay không. Ông ta bảo:
từ chỗ pho tượng đến mé vực khá xa, không thể bảo như bên nghiệp
đoàn là vì né tránh mà anh rơi xuống sườn đá dốc. Chỉ còn có một cách
giải thích: anh mắc chứng nan y mà tự vận, hay có máu điên trong người,
chúng tôi phải thử đi thử lại hoài, chỉ vì vậy".
Anh y tá đã lấy máu xong, cầm ống nghiệm và xê ranh đứng dậy. Thấy tôi
nhìn theo, anh bông đùa:
"Anh có điên không, nói quách cho họ biết, để họ khỏi hành hạ tụi tôi".
Người y tá đi rồi, tôi nằm hoang mang cả buổi sáng. Ừ, vì sao mình làm
thế? Mình có điên có khùng đây? Khi nào bình phục và lãnh tiền bồi
thường xong tôi cũng phải kể lại sự thực, để tự tôi bồi thường cho tôi một
chút danh dự. Tôi sẽ kể sự thực. Sự thực đại khái như thế này, vì tôi chưa
dám chắc những điều tôi biết, những hình tôi thấu, những tiếng tôi nghe.
Buổi trưa hôm đó, trời nắng gắt lắm. Pho tượng coi như đã hoàn thành, vì
toán thợ mười hai người chúng tôi đã gắng quét một lớp xi măng mỏng
bên ngoài suốt cả buổi sáng. Ông chủ thầu cười nói hỉ hả, hẹn đem xôi và
thịt quay ra cúng mừng rồi đãi chúng tôi một bữa nhậu no nê vào bốn giờ
chiều. Ăn xong, dọn dụng cụ đồ đạc về phố luôn thể. Ông chủ vào đất liền
rồi, các bạn tôi không biết làm gì, gọi một chiếc thuyền đánh cá đến xin
quá giang vào bến. Tôi cảm thấy bực bội điều gì không rõ. Có thể vì
Thương không đến chỗ chiếc ghế đá dưới bãi cát tối hôm trước, bắt tôi
phải bồn chồn đợi nàng suốt ba giờ liền. Cũng có thể vì tôi nhức đầu vì
hơi bị cúm, không được khỏe lắm. Anh em mừng rỡ khi nghe tôi nhận lời
chịu ở lại đảo giữ đồ đạc.
Cả bọn đi rồi, tôi ngồi bó gối dưới chân tượng. Từ mỏm núi nhìn ra, biển
xanh tiếp nối đến tận chân trời. Trên cao mây đã bay đi, còn lại bầu trời
trong xanh và một mặt trời hực lửa. Chung quanh tôi, những tảng đá
nhọn loang lổ rêu xám, những bụi ốc mèo cằn cỗi gai đâm tua tủa, những
viên sỏi tròn nhẵn vì lăn lóc biết bao lần trong khoảng thời gian vô tận.
Tôi chói mắt vì mặt trời. Tôi ngộp trong bao la. Cảm thấy nghẹn thở vì sự
đìu hiu cũng mênh mông chẳng kém gì trời và nước.
Tôi núp mát
dưới bóng pho tượng, nhìn bâng quơ ra phía trước mặt nhưng chỉ thấy
những hình ảnh mờ nhạt, hỗn độn sắc vàng chói và màu xanh dương.
Chán nản. Tôi hối hận đã tình nguyện ở lại đảo. Ray rứt, tôi muốn làm
một cái gì cho qua thì giờ. Không có lấy một tờ báo, một quyển sách. Tôi
đến gần chỗ bờ vực, kề sát bên một vách đá dựng đứng xuôi tuột xuống
bể sâu. Tưởng tượng mình rơi tõm xuống đây, chìm vào hư vô, tôi cảm
thấy sợ hãi vội lùi lại. Phía tay phải sườn núi khá dốc. Tôi đá hất một viên
sỏi dưới chân. Viên sỏi rơi vào thung lũng dưới kia, lặng lẽ vô nghĩa như
một làn gió thổi qua đỉnh núi trọc, không tạo nổi một tiếng vi vu hay một
tiếng lá xì xào.
Trời trở về chỗ pho tượng, vô tình nhìn xuống bóng mình di động trên
mặt đất phẳng. Tôi tìm ra được một thú tiêu khiển.
Tôi đứng thu mình lại cho bóng tôi chập vào chân phải của pho tượng.
Rồi tôi lại sang đứng bên phía chân kia. Tay trái pho tượng thả xuôi bên
hông. Tôi ngồi xuống, cho bóng tôi giống như một món đồ Đức Trần
Hưng Đạo mang theo khi ra trận. Bóng của tôi tròn vo, giống y một cái
đầu lâu. Một cái đầu của giặc Nguyên mà vị anh hùng dân tộc vừa dùng
gươm chém lìa khỏi cổ. Ý tưởng đó khiến tôi lạnh xương sống, vội choàng
đứng dậy. Tôi đi dần ra mé núi, đứng ngay nơi bóng mũi gươm. Tôi trở
thành một tên phù thủy, có phép khinh công lão luyện nên đứng được
chênh vênh trên mũi gươm một vị anh hùng. Bóng tôi vươn cao hơn cả
bóng tượng.
Tôi cười lên thích thú. Tiếng cười vang ra, vọng lại từ vách núi đá, nghe lạ
hoắc. Tôi thử cười a ha lần nữa, lần này to hơn lần trước. Tiếng vọng
dõng dạc. Vách núi dựng phía sau lưng, thung lũng màu xanh pha nâu
phía tay phải, bờ đá cheo leo sụp đột ngột xuống mặt biển xanh trước
mặt và phía trái. Chung quanh đây chỉ có cao, sâu, rộng, lớn. Chỉ có vĩnh
cửu, bao la mênh mông, thăm thẳm. Tôi đứng ở giữa. Bóng tượng đổ thấp
bên dưới. Chợt nhớ đến phim Tarzan coi thời thơ ấu, tôi bắt hai bàn tay
làm loa, ráng hú thật lớn thật dài như vị chúa tể rừng xanh Phi châu.
Tiếng hú vang vọng qua bao nhiêu vách đá, làm lung lay mấy bụi ốc mèo
cằn cỗi trên đồi, và xao động cả mặt sóng xanh. Quá thích thú, tôi hú tiếng
thứ hai, rồi tiếng thứ ba. Cổ tôi bắt đầu rát. Đến khi hú xong tiếng thứ
năm, nhìn xuống mặt đất trước mặt, tôi giật mình sững sờ. Hình như
bóng pho tượng đang cử động, Không tin ở mắt mình, tôi cố lấy hết sức
bình tĩnh nhìn kỹ một lần nữa. Phải rồi, hình như cánh tay cầm gươm của
Ngài cử động, bóng lưỡi gươm càng ngày đưa sát vào cái bóng bé nhỏ của
tôi. Kinh hãi đến cùng cực tôi ngước lên nhìn pho tượng. Quả nhiên, tôi
đã không lầm. Ngài đang từ từ hạ gươm xuống, gân cốt Ngài kêu răng rắc
và từng mảng xi măng trên áo giáp của Ngài rơi tơi tả trên mặt đất. Mắt
tôi nhìn chăm chăm vào lưỡi gươm. Hai tay tôi đưa lên cao che lấy đầu,
trong khi chân tôi tự động lùi lại, lùi lại dần, cho xa cho thoát khỏi lưỡi
gươm thiêng của Ngài. Đến lúc chân bước hụt vào khoảng không, và bị
lăn xuống thung lũng, tôi không còn biết rõ điều gì nữa.
Có lẽ giờ đây chỉ còn lại một điều, một điều hồ nghi: Phải chăng tiếng hú
chất chứa bao nhiêu phẫn uất dồn nén trong cuộc sống đìu hiu của tôi,
tiếng hú giữa nơi chỉ có mây và đất đá cỏ cây vô tri, đã vô tình phạm đến
danh dự Ngài. Và Ngài đã giận dữ hạ dần lưỡi gươm bén.
Hết
TÊN ĐÀO NGŨ
Chiếc GMC chở quan tài đậu sát vào mái tôn, quay đít vào gần cửa ra vào.
Lá quốc kỳ bị gió bay, nên lệch sang một phía, để lộ hông quan tài gỗ tạp
sơn một lớp dầu bóng đỏ ối. Người tài xế mở xe nhảy xuống, nói trỏng
vào phía buồng lái:
"Xuống đi! Phải ở lại đây tối nay rồi. Trời tối, ai dám qua truông".
Bốn người lính ở phía sau nhanh nhẹn leo qua hông, đạp một chân lên
bánh xe cao su, nhảy mạnh xuống nền xi măng. Bụi đỏ bay mù từ mấy bộ
quần áo xốc xếch lem luốc. Có tiếng trẻ con khóc phía đầu xe. Người đàn
bà mặt mày ốm gầy và lạc thần, đầu quấn khăn tang, thò đầu hướng về
phía nhà tiền chế nói lớn:
"Mấy chú làm ơn mở cho cánh cửa. Nặng quá".
Một người lính đi lại phía bên phải xe, gắng hết sức mới mở bật được
cánh cửa, rồi đưa tay dìu hai mẹ con xuống. Một tay ẵm đứa nhỏ độ một
tuổi, một tay xách cái giỏ ni lông, người đàn bà phải để mặc cho anh lính
đỡ hai nách, cẩn thận bước xuống bậc thang, rồi chậm rãi vào trú dưới
mái hiên. Đứa nhỏ ngơ ngác nhìn chung quanh, nhận diện từng người, rồi
lại khóc lên từng hồi. Người đàn bà ngồi bệt trên nền trại, lấy bình sữa
bằng nhựa núm vú vàng xỉn nhét vào miệng đứa bé. Nó núc vài ngụm, ậm
ừ như muốn nghẹn nước, rồi quay đầu nhả vú ra khóc tiếp. Người đàn bà
sợ làm phiền ông Chỉ huy trưởng, vội vã bồng con ra đứng dưới mấy gốc
dương liễu lá rũ. Tân hỏi mấy người lính đang tiếp tục giũ bụi:
"Bị ở đâu đó?"
"Trên Phú Nhơn".
"Chở về đâu?"
"Miệt ngoài Bồng Sơn. Bây giờ đã sáu giờ chiều, qua truông sao nổi".
Toán lính trực thoả mãn tò mò, lảng đi xa. Bốn người lính lạ hỏi Tân chỗ
câu lạc bộ, rồi đi theo hướng Tân chỉ. Người tài xế mở nắp đầu máy kiểm
soát dầu nhớt và bu-gi, rồi cũng đi theo bốn người lính hộ tống. Một lúc
sau, một người bưng ra cho người đàn bà dĩa cơm và chai xá xị, xong vội
vã quay trở lại câu lạc bộ. Đứa bé bây giờ đã hết khóc, nằm ngủ lả trên vai
mẹ. Người đàn bà bồng con vào trong mái hiên, liếc nhìn lên quan tài thúc
thít khóc, rồi ngồi trên nền trại lơ đãng xúc cơm ăn. Gió bên ngoài bỗng
thổi mạnh bốc bụi mù mịt, trong khi đêm chầm chậm trở về. Lúc ông
Thượng sĩ nhẹ nhàng bước chậm cho ngọn nến khỏi tắt, leo lên xe gắn lên
nắp quan tài, Tân hỏi:
"Tối nay toán nào gác cầu, Thượng sĩ?"
"Toán hai".
"Ủa, sao tụi nó không cho tui hay".
Ông Thượng sĩ đứng trên xe, không thèm quay mặt lại, gắt gỏng:
"Mầy đi ghẹo gái cho đã rồi về hỏi lôi thôi. Có lấy đồ đạc ra lô cốt mau lên
không? Cho mấy củ bây giờ".
Tân chạy vội về phòng trực. Người đàn bà vẫn ngồi chỗ cũ, biếng nhác
nhai cơm, hờ hững nhìn mông lung về phía bóng tối trước mặt. Phòng
trực không còn ai. Bóng đèn điện góc phòng lung lay theo gió. Khẩu M.16,
cái mũ sắt, và tấm pon-cho của Tân còn bỏ lại trong góc tối.
Tân đội mũ sắt lên, trí óc ràng buộc vào cái rọ trách nhiệm. Sợi dây nịt
đạn quấn quanh bụng chặt chẽ như quân kỷ. Đôi giày nặng bó cổ chân,
níu trì gân cốt như muốn chôn sâu người lính đời đời kiếp kiếp xuống
giao thông hào, sau lỗ châu mai, trong hầm lô cốt. Chỉ có khẩu súng là nhẹ
nhàng, đong đưa trong vòng ngón trỏ, tự do như chiều đạn đạo.
Một mùi hôi gay gắt trộn lẫn hương nhang thổi vào chỗ Tân ngồi. Bóng
người đàn bà ôm con nổi hẳn trên nền sáng do ngọn đèn pha phía bên kia
trại. Tân lẩm bẩm:
"May tối nay mình ra cầu. Không thì nằm đây lãnh đủ".
Lúc ra đến cổng trại, một trận gió mạnh thổi ào ngăn cả bước Tân đi. Tân
đưa tay dụi mắt. Bên trong hàng rào, có tiếng trẻ khóc. Khi nước chảy ra
trôi hết bụi và mi mắt hết cồm cộm xốn xang, nhìn trở vào trong, Tân
thấy ngọn nến trên nắp quan tài đã tắt.
Tín chửi thề:
"Đ.M. bây giờ mới ra. Lính cậu hả?"
"Thôi mà người anh em. Lão thượng sĩ đã cho anh lãnh đủ rồi. Nỡ nào
người anh em còn nặng tay".
Rồi chuyển sang giọng bình thường, Tân bảo:
"Đã phân công chưa?"
"Rồi, mầy gác ca bốn".
"Với ai?"
"Tao không nhớ. À, hình như với thằng Liễn".
"Tụi nó đâu rồi?"
"Giặt quần áo phía bến đò. Mầy làm gì cả buổi chiều nay không thấy mặt".
"La cà lai rai vậy mà. Đầu tháng dư tiền, không có sao".
"Nói giọng cha không. Sao không nằm luôn trong trại cho bảnh?"
"Hôi không chịu nổi".
"Cái gì?"
"Cái xác. Có một con bị trận Phú Nhơn, vợ lên lãnh về. Trời tối không dám
qua truông, nên GMC chở vào gởi tạm đằng trại".
Tín nói sang chuyện khác:
"Tao mới mua được cái cát-xét Hitachi".
"Bao nhiêu?"
"Chín ngàn. Nghe thử không?"
Tín mở máy. Giọng một nữ ca sĩ danh tiếng nỉ non, tha thiết:
"Các anh đi, ngày ấy đã lâu rồi. Các anh đi biết bao giờ trở lại. Xóm làng
tôi trai gái vẫn chờ mong. Làng tôi nghèo nho nhỏ trên sông. Gió bấc lạnh
lùng thổi vào mái rạ. Làng tôi nghèo, nắng mưa tơi tả, trai gái trong làng
vất vả ngược xuôi..."
Tân đưa tay tắt máy:
"Nghe mùi quá. Nhưng đâu phải tụi mình. Nói chuyện tụi nó ngày trước
mà".
Tín cãi:
"Thì áp dụng cho tụi mình cũng được, có sao đâu. Này này: Các anh về
mái ấm nhà êm, câu nói tiếng cười rộn ràng trước ngõ. Mình đi hành
quân tảo thanh đem lại an ninh cho đồng bào. Mặt bên kia còn một bài
mới. Chờ một chút tao cuộn băng trở lại đã".
Tân lấy thuốc hút, nhìn xuống bãi cát chân cầu. Anh hỏi:
"Đêm nay có trăng không?"
"Có, mười bảy ta mà".
"Vậy là đỡ khổ rồi. Tao gác ca tư, trăng sách quắc, đố đứa nào dám bén
mảng tới chân cầu".
Tín đã sang băng xong, mở máy trở lại:
"Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại. Xin trả lời, xin trả lời mai mốt
anh về... Anh trở về hàng cây nghiêng ngả, anh trở về có thể bằng hòm gỗ
cài hoa. Anh trở về, trên chiếc băng ca, trên trực thăng sơn mầu tang
trắng..."
Tân lại đưa tay tắt máy, lầm bầm:
"Thôi. Để yên nghe nước chảy còn hơn".
Anh ra phía cầu, đái xuống dòng sông đen. Tín nói lớn:
"Mầy tục tĩu quá, không hiểu sao tụi con gái mê mầy".
Tân gài nút quần, trả lời:
"Tao khơi đúng chỗ ngứa giấu kín sau cái mặt nạ ngoan ngoãn con nhà,
sau cái vỏ mỏng ngây thơ. Còn tụi bay thì cả tin, nên hỏng hết".
Rồi không muốn dây dưa tranh luận, Tân bảo:
"Tao đi tắm một chút. Tụi nó trở lại, mầy nói giùm là tao đã ra rồi".
Tân trở lại đầu cầu, giở vòng dây thép gai chui qua bên kia. Con đường
mòn dốc xuôi xuống bãi cát phía dưới. Lá dứa gai cứa vào ống quần vải
dày, chỉ nghe rào rào. Thích thú, thách đố, an tâm, Tân dẫm bừa lên gai
góc, bước nhầu lên mấy bụi ốc mèo, không thèm theo lối mòn quanh co
mình rắn. Mấy khóm dứa đen quì mọp dưới gót, sau lưng. Một cây gai
ngang ngạnh đâm thủng lần vải, Tân thót người đau đớn, tức giận quật
mạnh báng súng lên bụi đen, rồi dẫm mạnh gót giày trên đó mà đi. Vài
nhánh khô gãy rụm, dòn tan.
Qua hết khóm gai thì đến bờ cát. Đã quen lối đi, Tân dừng lại bên một
khóm cây rậm. Anh lấy nắp nhựa đậy họng súng M.16 lại, rồi cắm súng
giấu sâu vào bóng tối. Đôi bàn tay bất chợt rảnh rang, trở thành ngượng
nghịu. Theo thói quen, Tân đưa tay lên vai định gỡ dây súng trước khi
ngồi lên mô đất. Anh lầm bầm chửi thề, thấy mình lú lẫn quên trước quên
sau. Đôi bàn tay vẫn còn vụng về, mấy ngón cử động láu táu không biết
phải làm cái gì. Tội nghiệp! Chúng nó không quen ở không. Cho nên bàn
tay nầy nắm ngón tay bàn tay kia bẻ lốp rốp, rồi bàn tay kia bẻ trả.
Trước mặt, bãi cát vàng nhờ nhờ chạy dài ra đến tận bờ nước đen, và Tân
nhớ rõ mặt cát mịn đến nỗi bước chân lên trên, làm da chân mỏng vẫn có
cảm giác êm ái bình thường như được ấp ủ trìu mến bằng lớp vải lên dày.
Tân ngồi xướng mô đất, dây nịt đạn chằng ngang bụng, cọ mạnh vào
xương sườn.
Bỏ mặc quân trang và vũ khí gần khóm cây. Tân định đi xuống bờ cát,
nhưng nghĩ sao, bèn quay trở lại. Trăng đã lên tự lúc nào, chiếu rõ cái mũ
sắt, dây nịt đạn, đôi giầy thô, và cả báng súng nhựa. Anh giấu đồ đạc cẩn
thận hơn, cho bóng tối che khuất rồi tiện tay cởi luôn bộ quần áo treillis
nặng nề hôi hám. Tân chỉ còn mặc một cái quần đùi và cái áo lót. Gió lùa
vào khe nách, ống quần, thổi dậy niềm khoan khoái, bùng lên khát vọng
tự do.
Tân nhảy xuống lòng cát, tung tăng chạy khắp mọi hướng. Trăng mỉm
cười. Gió mơn man. Cát hôn ấm lòng chân. Trời cao và đất rộng mời gọi.
Sự sống man rợ, điên cuồng ngây ngấy đưa bước chân thoăn thoắt, đưa
đôi tay vung mạnh lướt tới, nghiêng nghiêng mặt người để hứng thuận
chiều gió. Bàn tay đưa ra trước mặt chờ đón mà không nắm bắt, hy vọng
mà không tham lam, để gió mát và ánh vàng lọt qua mấy ngón. Tân chạy
nhảy, không cảm thấy mệt nhọc thoả thuê, và lúc đứng dừng lại, vẫn còn
thấy lòng mình trống không để tiếp tục góp thu cái diệu vợi vô cùng của
đất trời vào lòng.
Anh chạy theo bờ nước trong. Chân đạp rào rạo trên sỏi nhỏ ven sông,
nước bắn tung lên mát dịu ống chân và bắp vế. Lúc chạy về phía trăng
lên, bọt nước toả sáng quanh mình, rơi vang trên bãi, như các tia nước
phun trong công viên thành phố.
Tân chạy thẳng theo đường nước cạn, rồi lại uốn mình ngoằn ngoèo như
hình rắn, hết dậm chân trên cát ấm lại dậm chân xuống nước róc rách
mát rợi. Trong một bước lơ đãng, anh bước vào một hố sâu. Tân ngã
xuống, nước ngập nửa người. Trăng mờ đi vì một đám mây vô tình. Anh
hốt hoảng nghĩ:
"Không biết có đứa nào thấy chỗ mình giấu súng không? Đã tới ca gác của
mình chưa?"
Anh ngồi xuống cát, và bây giờ mới cảm thấy mỏi rần khắp người. Gót
chân rát vì bị chà xát quá nhiều. Gió tăng thêm lạnh trên bộ quần áo ướt.
Bóng cầu đen đủi choàng tay qua hai bờ xa tít, tham lam trơ trẽn.
Một trái hoả châu từ quận lỵ bắn lên, chiếu mầu đỏ kè bệnh hoạn mặt
sông, rồi tắt lịm để lại một vệt khói lững lờ dưới trăng.
Có tiếng kẻng đổi ca từ trên cầu vọng xuống. Tân cố nhíu mày đọc mấy
chữ số trên đồng hồ. Chưa tới phiên mình! Gió lạnh lẽo, Trăng nhợt nhạt.
Nước rên rỉ. Bóng tối ma quái. Trong một cử động đột ngột cương quyết,
Tân quăng cái đồng hồ rơi tõm xuống dòng sông đen. Tiếng vọng khích
động cảm giác, và anh bắt đầu chạy như điên trên bãi, lội mạnh xuống
dòng sông cho đến lúc nước ngập quá gối và chạy trở lên tận bờ cỏ ướt
dọc theo doi cát.
Khi chạy như thế đến vòng thứ ba, vừa từ bờ cát trở về con nước, Tân đã
thấy có bóng người ngồi lặng ở đấy rồi.
Bóng một người con gái.
*
Trăng đã lên quá ngọn tre xóm Đông hơn một con sáo. Ánh trăng viền
khuôn mặt người con gái, cho Tân thấy đôi mắt mở lớn hướng về phía
ánh sáng và đôi môi cười. Mái tóc dài chìm trong nền tối, nhưng dáng
người in rõ trên mặt cát ướt. Hai bàn chân cô gái ngâm dưới nước sông,
khuấy động róc rách. Gió vẫn dịu dàng. Cát vẫn câm nín. Trăng cười lặng.
Chỉ có nước nhột nhạt vì bàn chân khuấy động, không thôi rúc rích thích
thú. Nửa như chế giễu nửa như thúc giục. Mồ hôi loãng theo gió thổi, làm
Tân lành lạnh da cổ và xương sống. Tân hỏi:
"Làm gì ngồi đây?"
Cô gái không trả lời, không quay lại. Một lúc sau, cô mới hỏi lại:
"Làm gì mà chạy như ngựa chứng? Có say không?"
"Ra ngồi đây lâu rồi à? Sao tôi không thấy?"
"Say rồi thấy sao được?"
"Chiều nay tới phiên gác cầu, không dám nhậu".
"Thiếu gì thứ say. Đâu phải chỉ có rượu. Say hơi đất. Say hơi lá. Say trăng,
say mây. Say sưa hơi ấm của cát, say cái rúc đầu nhột nhạt của nước trên
mặt da..."
Tân ngăn lại:
"Nói thật hay nói giỡn đó?"
"Thật chớ. Tân không thấy tôi ngâm chân xuống nước à?"
Tân lạnh mình, há hốc mồm không nói được gì. Một lúc sau mới hỏi lấp
lửng, e dè:
"Sao biết tên tôi?"
"Dễ ợt. Chú ý tìm hơi thì phải ra. Chỉ cần hỏi mấy cô thợ may ngoài chợ".
Tân sợ thực sự. Xương sống ớn lạnh. Tân hỏi, giọng ấp úng:
"Cô ngồi chỗ nào? Bàn máy góc bắc hay gần bên nhà hát bộ?"
"Ơ hơ. Em có làm thợ may đâu. Nhưng em có một con bạn làm thợ may
biết anh nhiều..."
Tân vội vàng hỏi:
"Tên gì?"
"Thôi, nói chi thêm rắc rối. Gia đình em làm nghề câu gõ. Sõng cột dưới
gốc cây lớn kia kìa".
"Vậy cô lên đây ngồi làm gì?"
"Bắt người ta bơi dưới nước hoài sao? Cho lên bờ một chút không được
à?"
"Sao không được. Ai dám cấm. Nhưng tôi muốn hỏi sao dám lên ngồi đây
một mình".
"Cha đi lên bờ mua đá đèn. Với lại, đâu phải chỉ có một mình..."
Tân dớn dác nhìn quanh, hối hận đã không mang súng đến tận bờ nước.
Phải gắng bạo dạn lắm, Tân mới hỏi được:
"Sao các bạn cô không ra mặt? Sao không ra ngồi nói chuyện cho vui?"
"Chuyện gì? Có nói anh cũng không hiểu".
"Sao vậy?"
"Anh nghĩ bạn em là ai?"
"Làm sao biết được. Mấy cô thợ may ngoài chợ này. Mấy cô bán cá này.
Mấy cô hái rau muống trên cầu này".
"Không phải. Lâu lâu em mới lên bờ mua cước với nước mắm. Mỗi lần
cha đi chợ, em phải ở lại giữ sõng".
"Sao khi nãy bảo quen với mấy cô thợ may ngoài chợ?"
Cô gái không trả lời, lấy chân quấy động mặt nước. Tân đánh bạo hỏi:
"Bạn em đang ở trên sõng dưới kia phải không? Mời họ ra nói chuyện đi".
"Bạn em à? Chúng nó đâu biết nói".
"Cái gì lạ vậy?"
"Cha lầm lì cả ngày. Trừ những lúc nói gióng một sai em gỡ lưới, gõ cây,
cha em không nói gì hết. Em buồn tìm bạn nói chuyện cho qua ngày. Em
nói với mấy con cá này..."
Tân ngắt ngang:
"Nói với cá?"
"Chớ sao. Em an ủi nó. Trông cái bụng trắng phau, cái vẩy óng ánh bạc,
đôi mắt trong, dễ thương lắm, mà cũng tội nghiệp nữa. Nhiều lần em gặp
mấy con cá nhỏ lưng xanh, vây pha hồng dãy dụa trong lưới như van xin.
Em lén cha thả lại xuống sông. Em không biết nó lội về hướng nào, nhưng
chắc chắn nó biết ơn em nhiều. Buổi trưa cha cột sõng dưới gốc cây ven
bờ nằm ngủ. Em thả chân xuống nước chơi. Chú cá thoát nạn hôm trước
trở lại mơn man gặm chân em. Chắc nó đến cảm ơn".
Tân tò mò thích thú, quên nỗi sợ hãi ban nãy, hỏi:
"Có bao giờ gặp Long cung thái tử không?"
"Anh nói sao?"
"Có gặp Long cung thái tử không?"
"Thái tử nào đâu?"
"Em không hiểu à? Dưới nước có một cung điện nguy nga, trong điện
cũng có một ông vua nước trị vì, gọi là Long vương. Con ông vua gọi là
Thái tử. Mỗi lần đi chơi đây đó ở bờ biển bến sông, thái tử mang hình con
rùa mai xanh, con cua mu đỏ..."
Cô gái vỗ tay cười, rồi hỏi mau:
"Thái tử có hoá thành cá không?"
"Có".
"Như vậy là em đã gặp Thái tử rồi. Một hôm em gỡ lưới được con cá mình
xanh biếc, vây màu đỏ và trắng. Cả cha cũng không biết tên cá gì. Hai cái
râu trước mép dài như sợi tơ. Em thả nó xuống nước trở lại. Mãi đến con
trăng sau, em đang ngồi nhúng chân xuống nước thế nầy thì có con cá
nhỏ đến gặm chân nhột nhột. Em mê mải nhìn trăng quá nên lúc nhìn
xuống nước, mắt loà đi, không trông thấy gì. Em chỉ thấy một giải vàng
trước mặt như con đường đất trải giữa sông. Em đứng dậy, em bước tới,
bước tới nữa. Hình như nước rẽ hai bên vì em không cảm thấy ướt át.
Mãi đến khi nước ngập tới cổ, em mới tỉnh hẳn và vội vàng bơi lại phía
sõng. Chắc Thái tử mời em đến Long cung quá".
Tân vội ngồi xa hơn, nhìn chăm chăm vào mặt cô gái. Đôi mắt cô vẫn sáng
long lanh dưới trăng. Cái miệng vẫn cười, và cả khuôn mặt trẻ thơ bộc lộ
một trạng thái lơ lững giữa đất và trời, ánh sáng và bóng tối, cõi thực và
cõi tưởng. Cảm thấy khoảng cách giữa hai người đã đủ an toàn Tân mới
hỏi tiếp:
"Hèn gì. Bây giờ anh mới hiểu. Em ngâm chân dưới nước đợi bạn về?"
"Đêm nay nó không tới. Nhưng không sao. Em nói chuyện với người
khác".
"Lỡ không có anh thì sao?"
"Thiếu gì bạn. Nước này. Cát này. Trăng này".
Tân không khỏi tò mò, chồm đến gần hỏi thật rõ:
"Nước biết nói à?"
"Nó chỉ nói nhỏ thôi. Khi buồn thì thì thầm. Khi vui thì rúc rích. Chỉ có
dưới chân cầu là ồn ào. Lính họ rào dây thép gai, rác rến bám vào làm
thành cái đập. Nước chảy xiết, kêu ồ ồ. Không đời nào em thèm lên đến
gầm cầu".
Tân nhớ đến nhiệm vụ:
"May dữ a. Đêm hôm mà em mon men đến đó, lãnh đủ có khi".
"Lính họ bắn à?"
"Sao không? Họ tưởng em là Việt cộng phá cầu".
"Em có làm gì đâu? Gặp em, anh có bắn không?"
"Lớ xớ đến gần cầu, bắn liền".
"Ai thèm tới đó làm gì. Anh cũng ồn ào như nước dưới chân cầu".
Lúc bấy giờ, một áng mây làm mờ bầu trời. Tân giật mình nhìn về phía
Tây. Bóng cầu vẫn đen thui, tham lam ôm hai bờ xa tít. Khi trăng sáng trở
lại, ánh loà trên sông che hẳn dấu cầu.
*
Trăng lên đến đỉnh đầu. Bóng hai người vây tròn chỗ ngồi. Trăng bớt lóe
sáng trên mặt nước, nhưng bãi cát vàng óng và trở nên mênh mông. Mặt
nước sông trong xanh, có thể nhìn thấy tận đáy cát. Cô gái từ lâu cầm lấy
tay Tân, và lần đầu anh cảm thấy hơi ấm chuyền sang từ năm đầu ngón
tay mềm. Anh nhìn chăm chú hơn: cổ tay tròn, thân người mập lẳn, ống
quần đen ướt dán chặt vào hai đùi, đôi bàn chân trắng. Cô gái tự nhiên lo
sợ rút bàn tay về. Tân nói:
"Đừng chờ thái tử nữa. Hãy nói chuyện với anh".
"Nói cái gì?"
"Chuyện làm ăn. Một ngày em lưới được bao nhiêu cá? Bán được bao
nhiêu tiền?"
"Không nói. Để anh nói trước".
"Nói cái gì?"
Cô gái cười thật ranh mãnh:
"Chuyện làm ăn. Anh đi lính thì nói chuyện lính".
"Đi lính đâu phải nghề làm ăn?"
"Sao không? Như nghề câu gõ có khác gì đâu? Lưới được bao nhiêu? Bán
được bao nhiêu?"
Tân nhìn thẳng vào mặt cô gái xem muốn hỏi thật hay nói đùa. Nét mặt
vẫn có cái vẻ trống vắng mà tham dự như trước. Tân chậm rãi trả lời:
"Nghề anh không có thả lưới rồi gõ cây rượt cá".
"Cha em cũng có làm vậy. Mấy hôm trời tối, ổng lấy đèn đá soi xuống
sông, dùng đọc đâm cá. Em ngồi đầu sau lo chèo. Nhiều khi em vô ý chèo
trệch một chút, sõng xoay ngang. Cha đâm trật, ổng la om sòm".
Tân trầm ngâm nhưng cô gái lại cười ròn rã. Tân bị lôi cuốn, cười theo.
Cô gái hỏi:
"Sao bây giờ không chạy như ngựa chứng nữa đi?"
"Bỏ em ngồi một mình, thái tử rước đi mất uổng lắm".
"Anh ra đây giỡn trăng hay đi tắm?"
"Quên mất. Ra đi tắm".
"Sợ nước à? Cho ướt luôn, chịu không".
Không chờ trả lời, cô gái lội ra giữa dòng tạt nước lên chỗ Tân ngồi. Hai
người tạt nước nhau, tiếng cười làm rạng rỡ đêm khuya. Thông thạo hơn,
cô gái tạt từng tia nước mạnh đúng vào mặt Tân, khiến anh phải mất thì
giờ vuốt mặt. Nhưng anh vẫn theo tiếng cười đuổi theo. Cô gái quen chạy
trên cát, luôn luôn vuột khỏi tầm tay Tân. Đôi lúc anh sắp chụp được bả
vai, nhưng cô đã hạ mình xuống, luồn về phía khác, làm cho Tân quá đà
ngã lên bờ nước.
Tân vẫn cố rượt theo. Nhờ bước hỏng vào lũng cát sâu, cô gái ngã, Tân
mới theo kịp. Gió và nước không làm nguội được sức nóng bừng bừng.
Tân úp mặt lên cổ cô gái, dụi mặt vào trong tóc ngửi mùi hôi và rong rêu.
Cô gái vẫn cười, hàm răng trắng óng ánh, đôi mắt long lanh, đôi tay trải
dài trên cát làm phập phồng lồng ngực. Không nói năng gì, Tân ôm lấy
thân thể ấm áp, sống trọn sự cuồng bạo dã thú. Miệng cô gái vẫn cười,
nhưng đôi mắt nhắm nghiền, đôi tay chới với. Cả gió cả nước cả trăng
đồng lòng thúc giục, trong khi cát vàng ấp ủ nâng niu.
Khi ngồi lại trên cát nhìn khuôn mặt cô gái mắt vẫn còn nhắm nghiền như
đứa bé ngủ say, Tân ngờ ngợ thấy quen. Nhưng không nhớ đã gặp cô ta
lúc nào, ở đâu!
*
Lúc mấy người quân cảnh đẩy lên xe, chiếc GMC vẫn còn đó chưa đi. Hai
tay bị khoá quặt ra sau, nên phải chật vật lắm Tân mới bước lên được cái
bậc cấp, rồi cúi người luồn ra ra ngồi băng sau. Mấy người lính đứng bên
ngoài không cần giữ ý, hỏi nhau:
"Bắt được thằng chả ở đâu đó?"
"Tận bãi cát gần khúc quanh của con sông".
"Chắc xuống dưới an ninh trả lời không xuôi đâu. Cả tiểu đội chết, cây cầu
sập, chỉ còn có một mình chả đi tắm".
"Nghe mìn nổ trên cầu mà cứ tắm à?"
"Không. Toán tiếp viện theo đường sông vòng lên, gặp nó đang bận quần
áo và lấy súng chạy về".
Tân ngồi im không nói năng gì. Phía trước xe, một nhóm người đang tụ
tập quanh mấy cái xác. Có tiếng khóc nỉ non và kể lể rên la. Bỗng nhiên
đám đông dạt cả ra, tránh lối cho lính khiêng một cái băng ca đi vào.
Nhiều tiếng lao xao:
"Một người nữa hả?"
"Đâu phải lính. Xác đàn bà".
"Dễ sợ. Ngực bị vỡ toang hết. Lượm ở đâu đó, trung sĩ?"
"Bến chài. Lúc tụi tôi bọc hậu đón đầu bọn du kích, thì thấy nó hớt hải
chạy từ phía cầu về. Hô đứng lại, nó cũng cứ chạy, nên mới nổ súng. Nếu
biết là nó, thì không giết làm gì".
"Vậy chớ ai đó?"
"Con khùng xóm Chài".
"Con khùng xóm Chài hay con khùng ngoài chợ?"
"Cả hai đứa là một. Nó là con gái ông câu gõ. Cha nó chết cách đây mấy
năm. Nó xin ăn ngoài chợ, và hễ cứ đến mùa trăng là nổi cơn".
Tân nghe được câu chuyện, lịm người không dám nhìn về phía trước. Bên
cửa trái, người tài xế xe GMC đang xem lại máy móc trước khi lên đường.
Bốn người lính hộ tống đã lên ngồi hai bên quan tài. Người tài xế đậy nắp
ca bô, gọi với vào trong:
"Ra đi cho sớm chị".
Người đàn bà ẵm đứa con ra xe. Mái tóc bù xù. Cái áo trắng vải thô và
vành khăn tang nhàu nát, dơ dáy. Lúc đi ngang qua xe quân cảnh, người
đàn bà vô tình nhìn vào phía Tân.
Anh không tin ở mắt mình...
 





