Tài nguyên thông tin thư viện

Ảnh ngẫu nhiên

Tieu_de_phu_3.jpg Tieu_de_phu_2.jpg Tieu_de_phu_1.jpg Tieu_de_phu.jpg HUONG_UNG_HOC_TAP_SUOT_DOI_NAM_2025.jpg

BẢN TIN THƯ VIỆN

< Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Sách điện tử sách Bác Hồ

Sách điện tử sách thiếu nhi

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • THƯ VIỆN NƠI LƯU GIỮ TRI THỨC

    💕💕 “XIN CHÀO ĐÓN TOÀN THỂ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI THƯ VIỆN SỐ TRƯỜNG THCS LẠC LÂM” 💕💕

    Mẹ và con

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Bùi Thị Thêu
    Ngày gửi: 09h:59' 05-05-2024
    Dung lượng: 567.3 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    MẸ VÀ CON
    NGUYỄN MỘNG GIÁC

    *******
    MỤC LỤC
    1/- Bóng tối buổi trưa
    2/- Tên đào ngũ
    3/- Ngựa đá sang sông
    4/-Gió hú
    5/- Mẹ và con
    6/- Nước cạn, hoa lau
    7/-Tiếng đàn thầm
    8/- Ông cháu

    BÓNG TỐI BUỔI TRƯA
    Từ phòng hồi sức, tôi được đưa qua trại 10. Giường của tôi nằm ngay
    trong góc phía trái, nơi trú ẩn của bóng tối, của ẩm mốc và của đàn muỗi
    đói khát. Cho nên mỗi lần thấy có người lạ mặt bước vào phòng dớn dác
    nhìn quanh, chính tôi phải lên tiếng trước họ mới tìm ra. Vả lại, cả hai
    chân tôi băng bột, cánh tay trái treo trên đỉnh mùng, mặt mũi băng bông
    trùm kín, thì có thánh mới nhận ra thằng Liêu ba hôm về trước.
    Sáng nay, anh y tá vừa đến lấy nước tiểu đem lên phòng thí nghiệm, thì
    một người đàn ông lạ mặt, đeo kính lão tóc hớt ngắn có cái mũi đỏ sần sùi
    đến tìm tôi. Chắc có người chỉ dẫn trước nên ông ta xăm xăm tiến tới chỗ
    tôi nằm, cúi chào rồi tự giới thiệu:
    "Tôi là phó chủ tịch nghiệp đoàn công nhân xây cất".
    Tôi bỡ ngỡ không biết phải trả lời thế nào, thì ông ta đã tự kéo cái ghế sắt
    gần đấy ngồi xuống cạnh giường. Ông ta nói:
    "Cụ chủ tịch cử tôi lo vụ này. Sáng nay tôi có ra đảo. Tôi có bắc thang leo
    lên xem xét cánh tay của pho tượng. Thật không ngờ..." Ông phó chủ tịch
    dừng lại, ý chừng để chờ tôi lên tiếng hỏi, hoặc biểu lộ sự tò mò hiếu kỳ
    lên nét mặt. Nhưng ông ta quên rằng cái mặt tôi đã bị băng kính và loang
    lổ thuốc đỏ, còn cách nào đâu mà biểu lộ. Chờ một lúc, ông ta đành nói:
    "Anh biết không, cánh tay cầm gươm của pho tượng gãy ngay chỗ cùi chỏ.
    Cốt sắt bên trong nhỏ tí teo, gãy là phải. May nhờ có mấy vòng dây thép
    gai lão thầu quấn quanh thanh sắt cho ăn vữa, nên cả cánh tay lớn không
    rơi xuống. Nếu không, anh đã tan xương ngay tại đảo rồi. Lão thầu tham
    lam muốn lời cho nhiều, mới xảy ra cớ sự. Tuy cánh tay tượng chưa rơi
    trúng anh, nhưng vì phải tránh né mà anh lăn xuống sườn đồi. Đây là một
    tai nạn lao động. Nghiệp đoàn sẽ kiện lão thầu ra toà, đòi bồi thường
    xứng đáng cho anh..."
    Tôi chán nản không trả lời. Ông phó chủ tịch cầu chúc qua quít một vài
    câu nhạt nhẽo rồi ra về.
    Ông ta vừa đi được mười phút, thì Thương đến. Không ai chỉ dẫn cho
    nàng cả nên tôi vừa hồi hộp vừa lo âu nhìn nàng lăng xăng hỏi hết người
    này sang người nọ trong trại 10. Tôi không muốn gặp nàng lúc này, khi
    thân tàn ma dại đến độ chỉ còn là cái xác ướp kỳ dị trong các ngôi mộ cổ
    Ai Cập. Tuy thế, Thương vẫn tìm đến chỗ tôi nằm. Nàng để rơi thân hình
    nhỏ nhắn lên chiếc ghế sắt, hai bàn tay mềm ấm nắm lấy cánh tay phải
    của tôi. Nàng nói, giọng lạc đi, run run vì xúc động:

    "Anh, anh tha tội cho Thương. Đã nhiều lần em nói với anh là xin anh
    hiểu giùm hoàn cảnh của Thương. Em không thương anh, thì còn thương
    ai nữa. Anh là đời sống của em, là hơi thở, là thịt xương, là... là tất cả đời
    em. Có anh thì em vui, không có anh, đời em còn gì nữa đâu. Tối hôm đó
    em không ra biển được, vì nhà có kỵ. Em quên, không cho anh biết".
    Tôi gắng xoay người lại nhìn Thương. Tội nghiệp cô bé. Đôi mắt cô bé,
    nhờ ánh sáng yếu ớt chiếu từ cửa sổ bên kia, đầy ắp sự hối hận, thương
    xót, đau đớn, lo sợ. Nàng tưởng chính nàng là người chịu hoàn toàn trách
    nhiệm của tai nạn. Tôi muốn cải chính. Nhưng vết thương bên má làm
    cho tôi đau đớn. Có lẽ miệng tôi hơi méo lại khi muốn nói, trông như tôi
    đang mếu. Thương khóc oà lên:
    "Thà như vậy. Em chỉ sợ anh lạnh nhạt với em, nằm im không nói năng.
    Anh hiểu cho em không anh Liêu. Hiểu giùm cho em đi. Thú thực nhiều
    lúc thấy anh thương em quá, em phát sợ. Mắt anh chỉ toàn lửa và lửa. E
    mình có đáng gì đâu. Em đã nhắc lại câu ấy nhiều lần mà anh không chịu
    nhớ. Bây giờ em nhắc lại lần nữa: Em xấu xí, nghèo nàn, còn nhiều cái tầm
    thường nữa. Em có đáng gì đâu mà vừa sai hẹn tối hôm trước, sáng hôm
    sau anh đã liều thân thế này".
    Tôi không biết nói gì, sợ xua mất chút nắng đẹp trong tâm hồn cô bé. Tôi
    bóp nhẹ lên bàn tay mềm của Thương, ra dấu hiểu nàng và cảm ơn.
    Thương xúc động lắm, đưa khăn tay lên lau nước mắt. Rồi nàng lột cam
    cho tôi ăn. Tuy nước chua làm rát vết thương trong lưỡi, tôi vẫn cảm thấy
    tất cả sự khoái lạc bệnh hoạn. Lúc ăn đến múi cam chót, tôi cố rướn
    người lên hôn nhẹ lên hai ngón tay Thương.
    Nàng vui sướng, ngồi kể chuyện huyên thiên, hết chuyện nhà cửa đến
    chuyện mấy đứa em trai tinh nghịch. Nếu anh y tá không trở lại, chắc
    nàng còn sa đà nói mãi nói mãi. Chờ Thương ra khỏi phòng, anh y tá mới
    bảo:
    "Anh đưa tay phải tôi lấy thêm vài xê xê máu. Thật phiền. Họ bắt chúng
    tôi thử đủ thứ: nào nước tiểu, nào máu, nào phân, nào nước miếng... Anh
    chỉ bị gãy xương và xây xát khắp mình mẩy, bệnh đã rõ, việc gì phải lôi
    thôi".
    Tôi cố dằn đau đớn, phều phào hỏi:
    "Thử làm gì mà thử hoài vậy?"
    Y tá thấy tôi nói được, có lẽ vui mừng vì tìm ra người tri âm, liếng thoắng
    giải thích:
    "Anh biết làm sao không? Đây là tôi nghe lỏm được trên phòng quản đốc.

    Anh đừng kể lại cho ai nghe nhé. Hãng bảo hiểm của nhà thầu muốn khỏi
    mất tiền, đến năn nỉ xin bác sĩ xác nhận xem có phải anh mắc một chứng
    nan y nào đó, hoặc anh có máu điên trong người hay không. Ông ta bảo:
    từ chỗ pho tượng đến mé vực khá xa, không thể bảo như bên nghiệp
    đoàn là vì né tránh mà anh rơi xuống sườn đá dốc. Chỉ còn có một cách
    giải thích: anh mắc chứng nan y mà tự vận, hay có máu điên trong người,
    chúng tôi phải thử đi thử lại hoài, chỉ vì vậy".
    Anh y tá đã lấy máu xong, cầm ống nghiệm và xê ranh đứng dậy. Thấy tôi
    nhìn theo, anh bông đùa:
    "Anh có điên không, nói quách cho họ biết, để họ khỏi hành hạ tụi tôi".
    Người y tá đi rồi, tôi nằm hoang mang cả buổi sáng. Ừ, vì sao mình làm
    thế? Mình có điên có khùng đây? Khi nào bình phục và lãnh tiền bồi
    thường xong tôi cũng phải kể lại sự thực, để tự tôi bồi thường cho tôi một
    chút danh dự. Tôi sẽ kể sự thực. Sự thực đại khái như thế này, vì tôi chưa
    dám chắc những điều tôi biết, những hình tôi thấu, những tiếng tôi nghe.
    Buổi trưa hôm đó, trời nắng gắt lắm. Pho tượng coi như đã hoàn thành, vì
    toán thợ mười hai người chúng tôi đã gắng quét một lớp xi măng mỏng
    bên ngoài suốt cả buổi sáng. Ông chủ thầu cười nói hỉ hả, hẹn đem xôi và
    thịt quay ra cúng mừng rồi đãi chúng tôi một bữa nhậu no nê vào bốn giờ
    chiều. Ăn xong, dọn dụng cụ đồ đạc về phố luôn thể. Ông chủ vào đất liền
    rồi, các bạn tôi không biết làm gì, gọi một chiếc thuyền đánh cá đến xin
    quá giang vào bến. Tôi cảm thấy bực bội điều gì không rõ. Có thể vì
    Thương không đến chỗ chiếc ghế đá dưới bãi cát tối hôm trước, bắt tôi
    phải bồn chồn đợi nàng suốt ba giờ liền. Cũng có thể vì tôi nhức đầu vì
    hơi bị cúm, không được khỏe lắm. Anh em mừng rỡ khi nghe tôi nhận lời
    chịu ở lại đảo giữ đồ đạc.
    Cả bọn đi rồi, tôi ngồi bó gối dưới chân tượng. Từ mỏm núi nhìn ra, biển
    xanh tiếp nối đến tận chân trời. Trên cao mây đã bay đi, còn lại bầu trời
    trong xanh và một mặt trời hực lửa. Chung quanh tôi, những tảng đá
    nhọn loang lổ rêu xám, những bụi ốc mèo cằn cỗi gai đâm tua tủa, những
    viên sỏi tròn nhẵn vì lăn lóc biết bao lần trong khoảng thời gian vô tận.
    Tôi chói mắt vì mặt trời. Tôi ngộp trong bao la. Cảm thấy nghẹn thở vì sự
    đìu hiu cũng mênh mông chẳng kém gì trời và nước.
    Tôi núp mát
    dưới bóng pho tượng, nhìn bâng quơ ra phía trước mặt nhưng chỉ thấy
    những hình ảnh mờ nhạt, hỗn độn sắc vàng chói và màu xanh dương.
    Chán nản. Tôi hối hận đã tình nguyện ở lại đảo. Ray rứt, tôi muốn làm
    một cái gì cho qua thì giờ. Không có lấy một tờ báo, một quyển sách. Tôi
    đến gần chỗ bờ vực, kề sát bên một vách đá dựng đứng xuôi tuột xuống
    bể sâu. Tưởng tượng mình rơi tõm xuống đây, chìm vào hư vô, tôi cảm
    thấy sợ hãi vội lùi lại. Phía tay phải sườn núi khá dốc. Tôi đá hất một viên
    sỏi dưới chân. Viên sỏi rơi vào thung lũng dưới kia, lặng lẽ vô nghĩa như

    một làn gió thổi qua đỉnh núi trọc, không tạo nổi một tiếng vi vu hay một
    tiếng lá xì xào.
    Trời trở về chỗ pho tượng, vô tình nhìn xuống bóng mình di động trên
    mặt đất phẳng. Tôi tìm ra được một thú tiêu khiển.
    Tôi đứng thu mình lại cho bóng tôi chập vào chân phải của pho tượng.
    Rồi tôi lại sang đứng bên phía chân kia. Tay trái pho tượng thả xuôi bên
    hông. Tôi ngồi xuống, cho bóng tôi giống như một món đồ Đức Trần
    Hưng Đạo mang theo khi ra trận. Bóng của tôi tròn vo, giống y một cái
    đầu lâu. Một cái đầu của giặc Nguyên mà vị anh hùng dân tộc vừa dùng
    gươm chém lìa khỏi cổ. Ý tưởng đó khiến tôi lạnh xương sống, vội choàng
    đứng dậy. Tôi đi dần ra mé núi, đứng ngay nơi bóng mũi gươm. Tôi trở
    thành một tên phù thủy, có phép khinh công lão luyện nên đứng được
    chênh vênh trên mũi gươm một vị anh hùng. Bóng tôi vươn cao hơn cả
    bóng tượng.
    Tôi cười lên thích thú. Tiếng cười vang ra, vọng lại từ vách núi đá, nghe lạ
    hoắc. Tôi thử cười a ha lần nữa, lần này to hơn lần trước. Tiếng vọng
    dõng dạc. Vách núi dựng phía sau lưng, thung lũng màu xanh pha nâu
    phía tay phải, bờ đá cheo leo sụp đột ngột xuống mặt biển xanh trước
    mặt và phía trái. Chung quanh đây chỉ có cao, sâu, rộng, lớn. Chỉ có vĩnh
    cửu, bao la mênh mông, thăm thẳm. Tôi đứng ở giữa. Bóng tượng đổ thấp
    bên dưới. Chợt nhớ đến phim Tarzan coi thời thơ ấu, tôi bắt hai bàn tay
    làm loa, ráng hú thật lớn thật dài như vị chúa tể rừng xanh Phi châu.
    Tiếng hú vang vọng qua bao nhiêu vách đá, làm lung lay mấy bụi ốc mèo
    cằn cỗi trên đồi, và xao động cả mặt sóng xanh. Quá thích thú, tôi hú tiếng
    thứ hai, rồi tiếng thứ ba. Cổ tôi bắt đầu rát. Đến khi hú xong tiếng thứ
    năm, nhìn xuống mặt đất trước mặt, tôi giật mình sững sờ. Hình như
    bóng pho tượng đang cử động, Không tin ở mắt mình, tôi cố lấy hết sức
    bình tĩnh nhìn kỹ một lần nữa. Phải rồi, hình như cánh tay cầm gươm của
    Ngài cử động, bóng lưỡi gươm càng ngày đưa sát vào cái bóng bé nhỏ của
    tôi. Kinh hãi đến cùng cực tôi ngước lên nhìn pho tượng. Quả nhiên, tôi
    đã không lầm. Ngài đang từ từ hạ gươm xuống, gân cốt Ngài kêu răng rắc
    và từng mảng xi măng trên áo giáp của Ngài rơi tơi tả trên mặt đất. Mắt
    tôi nhìn chăm chăm vào lưỡi gươm. Hai tay tôi đưa lên cao che lấy đầu,
    trong khi chân tôi tự động lùi lại, lùi lại dần, cho xa cho thoát khỏi lưỡi
    gươm thiêng của Ngài. Đến lúc chân bước hụt vào khoảng không, và bị
    lăn xuống thung lũng, tôi không còn biết rõ điều gì nữa.
    Có lẽ giờ đây chỉ còn lại một điều, một điều hồ nghi: Phải chăng tiếng hú
    chất chứa bao nhiêu phẫn uất dồn nén trong cuộc sống đìu hiu của tôi,
    tiếng hú giữa nơi chỉ có mây và đất đá cỏ cây vô tri, đã vô tình phạm đến
    danh dự Ngài. Và Ngài đã giận dữ hạ dần lưỡi gươm bén.
    Hết

    TÊN ĐÀO NGŨ
    Chiếc GMC chở quan tài đậu sát vào mái tôn, quay đít vào gần cửa ra vào.
    Lá quốc kỳ bị gió bay, nên lệch sang một phía, để lộ hông quan tài gỗ tạp
    sơn một lớp dầu bóng đỏ ối. Người tài xế mở xe nhảy xuống, nói trỏng
    vào phía buồng lái:
    "Xuống đi! Phải ở lại đây tối nay rồi. Trời tối, ai dám qua truông".
    Bốn người lính ở phía sau nhanh nhẹn leo qua hông, đạp một chân lên
    bánh xe cao su, nhảy mạnh xuống nền xi măng. Bụi đỏ bay mù từ mấy bộ
    quần áo xốc xếch lem luốc. Có tiếng trẻ con khóc phía đầu xe. Người đàn
    bà mặt mày ốm gầy và lạc thần, đầu quấn khăn tang, thò đầu hướng về
    phía nhà tiền chế nói lớn:
    "Mấy chú làm ơn mở cho cánh cửa. Nặng quá".
    Một người lính đi lại phía bên phải xe, gắng hết sức mới mở bật được
    cánh cửa, rồi đưa tay dìu hai mẹ con xuống. Một tay ẵm đứa nhỏ độ một
    tuổi, một tay xách cái giỏ ni lông, người đàn bà phải để mặc cho anh lính
    đỡ hai nách, cẩn thận bước xuống bậc thang, rồi chậm rãi vào trú dưới
    mái hiên. Đứa nhỏ ngơ ngác nhìn chung quanh, nhận diện từng người, rồi
    lại khóc lên từng hồi. Người đàn bà ngồi bệt trên nền trại, lấy bình sữa
    bằng nhựa núm vú vàng xỉn nhét vào miệng đứa bé. Nó núc vài ngụm, ậm
    ừ như muốn nghẹn nước, rồi quay đầu nhả vú ra khóc tiếp. Người đàn bà
    sợ làm phiền ông Chỉ huy trưởng, vội vã bồng con ra đứng dưới mấy gốc
    dương liễu lá rũ. Tân hỏi mấy người lính đang tiếp tục giũ bụi:
    "Bị ở đâu đó?"
    "Trên Phú Nhơn".
    "Chở về đâu?"
    "Miệt ngoài Bồng Sơn. Bây giờ đã sáu giờ chiều, qua truông sao nổi".
    Toán lính trực thoả mãn tò mò, lảng đi xa. Bốn người lính lạ hỏi Tân chỗ
    câu lạc bộ, rồi đi theo hướng Tân chỉ. Người tài xế mở nắp đầu máy kiểm
    soát dầu nhớt và bu-gi, rồi cũng đi theo bốn người lính hộ tống. Một lúc
    sau, một người bưng ra cho người đàn bà dĩa cơm và chai xá xị, xong vội
    vã quay trở lại câu lạc bộ. Đứa bé bây giờ đã hết khóc, nằm ngủ lả trên vai
    mẹ. Người đàn bà bồng con vào trong mái hiên, liếc nhìn lên quan tài thúc
    thít khóc, rồi ngồi trên nền trại lơ đãng xúc cơm ăn. Gió bên ngoài bỗng
    thổi mạnh bốc bụi mù mịt, trong khi đêm chầm chậm trở về. Lúc ông
    Thượng sĩ nhẹ nhàng bước chậm cho ngọn nến khỏi tắt, leo lên xe gắn lên
    nắp quan tài, Tân hỏi:

    "Tối nay toán nào gác cầu, Thượng sĩ?"
    "Toán hai".
    "Ủa, sao tụi nó không cho tui hay".
    Ông Thượng sĩ đứng trên xe, không thèm quay mặt lại, gắt gỏng:
    "Mầy đi ghẹo gái cho đã rồi về hỏi lôi thôi. Có lấy đồ đạc ra lô cốt mau lên
    không? Cho mấy củ bây giờ".
    Tân chạy vội về phòng trực. Người đàn bà vẫn ngồi chỗ cũ, biếng nhác
    nhai cơm, hờ hững nhìn mông lung về phía bóng tối trước mặt. Phòng
    trực không còn ai. Bóng đèn điện góc phòng lung lay theo gió. Khẩu M.16,
    cái mũ sắt, và tấm pon-cho của Tân còn bỏ lại trong góc tối.
    Tân đội mũ sắt lên, trí óc ràng buộc vào cái rọ trách nhiệm. Sợi dây nịt
    đạn quấn quanh bụng chặt chẽ như quân kỷ. Đôi giày nặng bó cổ chân,
    níu trì gân cốt như muốn chôn sâu người lính đời đời kiếp kiếp xuống
    giao thông hào, sau lỗ châu mai, trong hầm lô cốt. Chỉ có khẩu súng là nhẹ
    nhàng, đong đưa trong vòng ngón trỏ, tự do như chiều đạn đạo.
    Một mùi hôi gay gắt trộn lẫn hương nhang thổi vào chỗ Tân ngồi. Bóng
    người đàn bà ôm con nổi hẳn trên nền sáng do ngọn đèn pha phía bên kia
    trại. Tân lẩm bẩm:
    "May tối nay mình ra cầu. Không thì nằm đây lãnh đủ".
    Lúc ra đến cổng trại, một trận gió mạnh thổi ào ngăn cả bước Tân đi. Tân
    đưa tay dụi mắt. Bên trong hàng rào, có tiếng trẻ khóc. Khi nước chảy ra
    trôi hết bụi và mi mắt hết cồm cộm xốn xang, nhìn trở vào trong, Tân
    thấy ngọn nến trên nắp quan tài đã tắt.
    Tín chửi thề:
    "Đ.M. bây giờ mới ra. Lính cậu hả?"
    "Thôi mà người anh em. Lão thượng sĩ đã cho anh lãnh đủ rồi. Nỡ nào
    người anh em còn nặng tay".
    Rồi chuyển sang giọng bình thường, Tân bảo:
    "Đã phân công chưa?"
    "Rồi, mầy gác ca bốn".
    "Với ai?"

    "Tao không nhớ. À, hình như với thằng Liễn".
    "Tụi nó đâu rồi?"
    "Giặt quần áo phía bến đò. Mầy làm gì cả buổi chiều nay không thấy mặt".
    "La cà lai rai vậy mà. Đầu tháng dư tiền, không có sao".
    "Nói giọng cha không. Sao không nằm luôn trong trại cho bảnh?"
    "Hôi không chịu nổi".
    "Cái gì?"
    "Cái xác. Có một con bị trận Phú Nhơn, vợ lên lãnh về. Trời tối không dám
    qua truông, nên GMC chở vào gởi tạm đằng trại".
    Tín nói sang chuyện khác:
    "Tao mới mua được cái cát-xét Hitachi".
    "Bao nhiêu?"
    "Chín ngàn. Nghe thử không?"
    Tín mở máy. Giọng một nữ ca sĩ danh tiếng nỉ non, tha thiết:
    "Các anh đi, ngày ấy đã lâu rồi. Các anh đi biết bao giờ trở lại. Xóm làng
    tôi trai gái vẫn chờ mong. Làng tôi nghèo nho nhỏ trên sông. Gió bấc lạnh
    lùng thổi vào mái rạ. Làng tôi nghèo, nắng mưa tơi tả, trai gái trong làng
    vất vả ngược xuôi..."
    Tân đưa tay tắt máy:
    "Nghe mùi quá. Nhưng đâu phải tụi mình. Nói chuyện tụi nó ngày trước
    mà".
    Tín cãi:
    "Thì áp dụng cho tụi mình cũng được, có sao đâu. Này này: Các anh về
    mái ấm nhà êm, câu nói tiếng cười rộn ràng trước ngõ. Mình đi hành
    quân tảo thanh đem lại an ninh cho đồng bào. Mặt bên kia còn một bài
    mới. Chờ một chút tao cuộn băng trở lại đã".
    Tân lấy thuốc hút, nhìn xuống bãi cát chân cầu. Anh hỏi:
    "Đêm nay có trăng không?"

    "Có, mười bảy ta mà".
    "Vậy là đỡ khổ rồi. Tao gác ca tư, trăng sách quắc, đố đứa nào dám bén
    mảng tới chân cầu".
    Tín đã sang băng xong, mở máy trở lại:
    "Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại. Xin trả lời, xin trả lời mai mốt
    anh về... Anh trở về hàng cây nghiêng ngả, anh trở về có thể bằng hòm gỗ
    cài hoa. Anh trở về, trên chiếc băng ca, trên trực thăng sơn mầu tang
    trắng..."
    Tân lại đưa tay tắt máy, lầm bầm:
    "Thôi. Để yên nghe nước chảy còn hơn".
    Anh ra phía cầu, đái xuống dòng sông đen. Tín nói lớn:
    "Mầy tục tĩu quá, không hiểu sao tụi con gái mê mầy".
    Tân gài nút quần, trả lời:
    "Tao khơi đúng chỗ ngứa giấu kín sau cái mặt nạ ngoan ngoãn con nhà,
    sau cái vỏ mỏng ngây thơ. Còn tụi bay thì cả tin, nên hỏng hết".
    Rồi không muốn dây dưa tranh luận, Tân bảo:
    "Tao đi tắm một chút. Tụi nó trở lại, mầy nói giùm là tao đã ra rồi".
    Tân trở lại đầu cầu, giở vòng dây thép gai chui qua bên kia. Con đường
    mòn dốc xuôi xuống bãi cát phía dưới. Lá dứa gai cứa vào ống quần vải
    dày, chỉ nghe rào rào. Thích thú, thách đố, an tâm, Tân dẫm bừa lên gai
    góc, bước nhầu lên mấy bụi ốc mèo, không thèm theo lối mòn quanh co
    mình rắn. Mấy khóm dứa đen quì mọp dưới gót, sau lưng. Một cây gai
    ngang ngạnh đâm thủng lần vải, Tân thót người đau đớn, tức giận quật
    mạnh báng súng lên bụi đen, rồi dẫm mạnh gót giày trên đó mà đi. Vài
    nhánh khô gãy rụm, dòn tan.
    Qua hết khóm gai thì đến bờ cát. Đã quen lối đi, Tân dừng lại bên một
    khóm cây rậm. Anh lấy nắp nhựa đậy họng súng M.16 lại, rồi cắm súng
    giấu sâu vào bóng tối. Đôi bàn tay bất chợt rảnh rang, trở thành ngượng
    nghịu. Theo thói quen, Tân đưa tay lên vai định gỡ dây súng trước khi
    ngồi lên mô đất. Anh lầm bầm chửi thề, thấy mình lú lẫn quên trước quên
    sau. Đôi bàn tay vẫn còn vụng về, mấy ngón cử động láu táu không biết
    phải làm cái gì. Tội nghiệp! Chúng nó không quen ở không. Cho nên bàn
    tay nầy nắm ngón tay bàn tay kia bẻ lốp rốp, rồi bàn tay kia bẻ trả.

    Trước mặt, bãi cát vàng nhờ nhờ chạy dài ra đến tận bờ nước đen, và Tân
    nhớ rõ mặt cát mịn đến nỗi bước chân lên trên, làm da chân mỏng vẫn có
    cảm giác êm ái bình thường như được ấp ủ trìu mến bằng lớp vải lên dày.
    Tân ngồi xướng mô đất, dây nịt đạn chằng ngang bụng, cọ mạnh vào
    xương sườn.
    Bỏ mặc quân trang và vũ khí gần khóm cây. Tân định đi xuống bờ cát,
    nhưng nghĩ sao, bèn quay trở lại. Trăng đã lên tự lúc nào, chiếu rõ cái mũ
    sắt, dây nịt đạn, đôi giầy thô, và cả báng súng nhựa. Anh giấu đồ đạc cẩn
    thận hơn, cho bóng tối che khuất rồi tiện tay cởi luôn bộ quần áo treillis
    nặng nề hôi hám. Tân chỉ còn mặc một cái quần đùi và cái áo lót. Gió lùa
    vào khe nách, ống quần, thổi dậy niềm khoan khoái, bùng lên khát vọng
    tự do.
    Tân nhảy xuống lòng cát, tung tăng chạy khắp mọi hướng. Trăng mỉm
    cười. Gió mơn man. Cát hôn ấm lòng chân. Trời cao và đất rộng mời gọi.
    Sự sống man rợ, điên cuồng ngây ngấy đưa bước chân thoăn thoắt, đưa
    đôi tay vung mạnh lướt tới, nghiêng nghiêng mặt người để hứng thuận
    chiều gió. Bàn tay đưa ra trước mặt chờ đón mà không nắm bắt, hy vọng
    mà không tham lam, để gió mát và ánh vàng lọt qua mấy ngón. Tân chạy
    nhảy, không cảm thấy mệt nhọc thoả thuê, và lúc đứng dừng lại, vẫn còn
    thấy lòng mình trống không để tiếp tục góp thu cái diệu vợi vô cùng của
    đất trời vào lòng.
    Anh chạy theo bờ nước trong. Chân đạp rào rạo trên sỏi nhỏ ven sông,
    nước bắn tung lên mát dịu ống chân và bắp vế. Lúc chạy về phía trăng
    lên, bọt nước toả sáng quanh mình, rơi vang trên bãi, như các tia nước
    phun trong công viên thành phố.
    Tân chạy thẳng theo đường nước cạn, rồi lại uốn mình ngoằn ngoèo như
    hình rắn, hết dậm chân trên cát ấm lại dậm chân xuống nước róc rách
    mát rợi. Trong một bước lơ đãng, anh bước vào một hố sâu. Tân ngã
    xuống, nước ngập nửa người. Trăng mờ đi vì một đám mây vô tình. Anh
    hốt hoảng nghĩ:
    "Không biết có đứa nào thấy chỗ mình giấu súng không? Đã tới ca gác của
    mình chưa?"
    Anh ngồi xuống cát, và bây giờ mới cảm thấy mỏi rần khắp người. Gót
    chân rát vì bị chà xát quá nhiều. Gió tăng thêm lạnh trên bộ quần áo ướt.
    Bóng cầu đen đủi choàng tay qua hai bờ xa tít, tham lam trơ trẽn.
    Một trái hoả châu từ quận lỵ bắn lên, chiếu mầu đỏ kè bệnh hoạn mặt
    sông, rồi tắt lịm để lại một vệt khói lững lờ dưới trăng.
    Có tiếng kẻng đổi ca từ trên cầu vọng xuống. Tân cố nhíu mày đọc mấy

    chữ số trên đồng hồ. Chưa tới phiên mình! Gió lạnh lẽo, Trăng nhợt nhạt.
    Nước rên rỉ. Bóng tối ma quái. Trong một cử động đột ngột cương quyết,
    Tân quăng cái đồng hồ rơi tõm xuống dòng sông đen. Tiếng vọng khích
    động cảm giác, và anh bắt đầu chạy như điên trên bãi, lội mạnh xuống
    dòng sông cho đến lúc nước ngập quá gối và chạy trở lên tận bờ cỏ ướt
    dọc theo doi cát.
    Khi chạy như thế đến vòng thứ ba, vừa từ bờ cát trở về con nước, Tân đã
    thấy có bóng người ngồi lặng ở đấy rồi.
    Bóng một người con gái.
    *
    Trăng đã lên quá ngọn tre xóm Đông hơn một con sáo. Ánh trăng viền
    khuôn mặt người con gái, cho Tân thấy đôi mắt mở lớn hướng về phía
    ánh sáng và đôi môi cười. Mái tóc dài chìm trong nền tối, nhưng dáng
    người in rõ trên mặt cát ướt. Hai bàn chân cô gái ngâm dưới nước sông,
    khuấy động róc rách. Gió vẫn dịu dàng. Cát vẫn câm nín. Trăng cười lặng.
    Chỉ có nước nhột nhạt vì bàn chân khuấy động, không thôi rúc rích thích
    thú. Nửa như chế giễu nửa như thúc giục. Mồ hôi loãng theo gió thổi, làm
    Tân lành lạnh da cổ và xương sống. Tân hỏi:
    "Làm gì ngồi đây?"
    Cô gái không trả lời, không quay lại. Một lúc sau, cô mới hỏi lại:
    "Làm gì mà chạy như ngựa chứng? Có say không?"
    "Ra ngồi đây lâu rồi à? Sao tôi không thấy?"
    "Say rồi thấy sao được?"
    "Chiều nay tới phiên gác cầu, không dám nhậu".
    "Thiếu gì thứ say. Đâu phải chỉ có rượu. Say hơi đất. Say hơi lá. Say trăng,
    say mây. Say sưa hơi ấm của cát, say cái rúc đầu nhột nhạt của nước trên
    mặt da..."
    Tân ngăn lại:
    "Nói thật hay nói giỡn đó?"
    "Thật chớ. Tân không thấy tôi ngâm chân xuống nước à?"
    Tân lạnh mình, há hốc mồm không nói được gì. Một lúc sau mới hỏi lấp
    lửng, e dè:

    "Sao biết tên tôi?"
    "Dễ ợt. Chú ý tìm hơi thì phải ra. Chỉ cần hỏi mấy cô thợ may ngoài chợ".
    Tân sợ thực sự. Xương sống ớn lạnh. Tân hỏi, giọng ấp úng:
    "Cô ngồi chỗ nào? Bàn máy góc bắc hay gần bên nhà hát bộ?"
    "Ơ hơ. Em có làm thợ may đâu. Nhưng em có một con bạn làm thợ may
    biết anh nhiều..."
    Tân vội vàng hỏi:
    "Tên gì?"
    "Thôi, nói chi thêm rắc rối. Gia đình em làm nghề câu gõ. Sõng cột dưới
    gốc cây lớn kia kìa".
    "Vậy cô lên đây ngồi làm gì?"
    "Bắt người ta bơi dưới nước hoài sao? Cho lên bờ một chút không được
    à?"
    "Sao không được. Ai dám cấm. Nhưng tôi muốn hỏi sao dám lên ngồi đây
    một mình".
    "Cha đi lên bờ mua đá đèn. Với lại, đâu phải chỉ có một mình..."
    Tân dớn dác nhìn quanh, hối hận đã không mang súng đến tận bờ nước.
    Phải gắng bạo dạn lắm, Tân mới hỏi được:
    "Sao các bạn cô không ra mặt? Sao không ra ngồi nói chuyện cho vui?"
    "Chuyện gì? Có nói anh cũng không hiểu".
    "Sao vậy?"
    "Anh nghĩ bạn em là ai?"
    "Làm sao biết được. Mấy cô thợ may ngoài chợ này. Mấy cô bán cá này.
    Mấy cô hái rau muống trên cầu này".
    "Không phải. Lâu lâu em mới lên bờ mua cước với nước mắm. Mỗi lần
    cha đi chợ, em phải ở lại giữ sõng".
    "Sao khi nãy bảo quen với mấy cô thợ may ngoài chợ?"
    Cô gái không trả lời, lấy chân quấy động mặt nước. Tân đánh bạo hỏi:

    "Bạn em đang ở trên sõng dưới kia phải không? Mời họ ra nói chuyện đi".
    "Bạn em à? Chúng nó đâu biết nói".
    "Cái gì lạ vậy?"
    "Cha lầm lì cả ngày. Trừ những lúc nói gióng một sai em gỡ lưới, gõ cây,
    cha em không nói gì hết. Em buồn tìm bạn nói chuyện cho qua ngày. Em
    nói với mấy con cá này..."
    Tân ngắt ngang:
    "Nói với cá?"
    "Chớ sao. Em an ủi nó. Trông cái bụng trắng phau, cái vẩy óng ánh bạc,
    đôi mắt trong, dễ thương lắm, mà cũng tội nghiệp nữa. Nhiều lần em gặp
    mấy con cá nhỏ lưng xanh, vây pha hồng dãy dụa trong lưới như van xin.
    Em lén cha thả lại xuống sông. Em không biết nó lội về hướng nào, nhưng
    chắc chắn nó biết ơn em nhiều. Buổi trưa cha cột sõng dưới gốc cây ven
    bờ nằm ngủ. Em thả chân xuống nước chơi. Chú cá thoát nạn hôm trước
    trở lại mơn man gặm chân em. Chắc nó đến cảm ơn".
    Tân tò mò thích thú, quên nỗi sợ hãi ban nãy, hỏi:
    "Có bao giờ gặp Long cung thái tử không?"
    "Anh nói sao?"
    "Có gặp Long cung thái tử không?"
    "Thái tử nào đâu?"
    "Em không hiểu à? Dưới nước có một cung điện nguy nga, trong điện
    cũng có một ông vua nước trị vì, gọi là Long vương. Con ông vua gọi là
    Thái tử. Mỗi lần đi chơi đây đó ở bờ biển bến sông, thái tử mang hình con
    rùa mai xanh, con cua mu đỏ..."
    Cô gái vỗ tay cười, rồi hỏi mau:
    "Thái tử có hoá thành cá không?"
    "Có".
    "Như vậy là em đã gặp Thái tử rồi. Một hôm em gỡ lưới được con cá mình
    xanh biếc, vây màu đỏ và trắng. Cả cha cũng không biết tên cá gì. Hai cái
    râu trước mép dài như sợi tơ. Em thả nó xuống nước trở lại. Mãi đến con
    trăng sau, em đang ngồi nhúng chân xuống nước thế nầy thì có con cá

    nhỏ đến gặm chân nhột nhột. Em mê mải nhìn trăng quá nên lúc nhìn
    xuống nước, mắt loà đi, không trông thấy gì. Em chỉ thấy một giải vàng
    trước mặt như con đường đất trải giữa sông. Em đứng dậy, em bước tới,
    bước tới nữa. Hình như nước rẽ hai bên vì em không cảm thấy ướt át.
    Mãi đến khi nước ngập tới cổ, em mới tỉnh hẳn và vội vàng bơi lại phía
    sõng. Chắc Thái tử mời em đến Long cung quá".
    Tân vội ngồi xa hơn, nhìn chăm chăm vào mặt cô gái. Đôi mắt cô vẫn sáng
    long lanh dưới trăng. Cái miệng vẫn cười, và cả khuôn mặt trẻ thơ bộc lộ
    một trạng thái lơ lững giữa đất và trời, ánh sáng và bóng tối, cõi thực và
    cõi tưởng. Cảm thấy khoảng cách giữa hai người đã đủ an toàn Tân mới
    hỏi tiếp:
    "Hèn gì. Bây giờ anh mới hiểu. Em ngâm chân dưới nước đợi bạn về?"
    "Đêm nay nó không tới. Nhưng không sao. Em nói chuyện với người
    khác".
    "Lỡ không có anh thì sao?"
    "Thiếu gì bạn. Nước này. Cát này. Trăng này".
    Tân không khỏi tò mò, chồm đến gần hỏi thật rõ:
    "Nước biết nói à?"
    "Nó chỉ nói nhỏ thôi. Khi buồn thì thì thầm. Khi vui thì rúc rích. Chỉ có
    dưới chân cầu là ồn ào. Lính họ rào dây thép gai, rác rến bám vào làm
    thành cái đập. Nước chảy xiết, kêu ồ ồ. Không đời nào em thèm lên đến
    gầm cầu".
    Tân nhớ đến nhiệm vụ:
    "May dữ a. Đêm hôm mà em mon men đến đó, lãnh đủ có khi".
    "Lính họ bắn à?"
    "Sao không? Họ tưởng em là Việt cộng phá cầu".
    "Em có làm gì đâu? Gặp em, anh có bắn không?"
    "Lớ xớ đến gần cầu, bắn liền".
    "Ai thèm tới đó làm gì. Anh cũng ồn ào như nước dưới chân cầu".
    Lúc bấy giờ, một áng mây làm mờ bầu trời. Tân giật mình nhìn về phía
    Tây. Bóng cầu vẫn đen thui, tham lam ôm hai bờ xa tít. Khi trăng sáng trở

    lại, ánh loà trên sông che hẳn dấu cầu.
    *
    Trăng lên đến đỉnh đầu. Bóng hai người vây tròn chỗ ngồi. Trăng bớt lóe
    sáng trên mặt nước, nhưng bãi cát vàng óng và trở nên mênh mông. Mặt
    nước sông trong xanh, có thể nhìn thấy tận đáy cát. Cô gái từ lâu cầm lấy
    tay Tân, và lần đầu anh cảm thấy hơi ấm chuyền sang từ năm đầu ngón
    tay mềm. Anh nhìn chăm chú hơn: cổ tay tròn, thân người mập lẳn, ống
    quần đen ướt dán chặt vào hai đùi, đôi bàn chân trắng. Cô gái tự nhiên lo
    sợ rút bàn tay về. Tân nói:
    "Đừng chờ thái tử nữa. Hãy nói chuyện với anh".
    "Nói cái gì?"
    "Chuyện làm ăn. Một ngày em lưới được bao nhiêu cá? Bán được bao
    nhiêu tiền?"
    "Không nói. Để anh nói trước".
    "Nói cái gì?"
    Cô gái cười thật ranh mãnh:
    "Chuyện làm ăn. Anh đi lính thì nói chuyện lính".
    "Đi lính đâu phải nghề làm ăn?"
    "Sao không? Như nghề câu gõ có khác gì đâu? Lưới được bao nhiêu? Bán
    được bao nhiêu?"
    Tân nhìn thẳng vào mặt cô gái xem muốn hỏi thật hay nói đùa. Nét mặt
    vẫn có cái vẻ trống vắng mà tham dự như trước. Tân chậm rãi trả lời:
    "Nghề anh không có thả lưới rồi gõ cây rượt cá".
    "Cha em cũng có làm vậy. Mấy hôm trời tối, ổng lấy đèn đá soi xuống
    sông, dùng đọc đâm cá. Em ngồi đầu sau lo chèo. Nhiều khi em vô ý chèo
    trệch một chút, sõng xoay ngang. Cha đâm trật, ổng la om sòm".
    Tân trầm ngâm nhưng cô gái lại cười ròn rã. Tân bị lôi cuốn, cười theo.
    Cô gái hỏi:
    "Sao bây giờ không chạy như ngựa chứng nữa đi?"
    "Bỏ em ngồi một mình, thái tử rước đi mất uổng lắm".

    "Anh ra đây giỡn trăng hay đi tắm?"
    "Quên mất. Ra đi tắm".
    "Sợ nước à? Cho ướt luôn, chịu không".
    Không chờ trả lời, cô gái lội ra giữa dòng tạt nước lên chỗ Tân ngồi. Hai
    người tạt nước nhau, tiếng cười làm rạng rỡ đêm khuya. Thông thạo hơn,
    cô gái tạt từng tia nước mạnh đúng vào mặt Tân, khiến anh phải mất thì
    giờ vuốt mặt. Nhưng anh vẫn theo tiếng cười đuổi theo. Cô gái quen chạy
    trên cát, luôn luôn vuột khỏi tầm tay Tân. Đôi lúc anh sắp chụp được bả
    vai, nhưng cô đã hạ mình xuống, luồn về phía khác, làm cho Tân quá đà
    ngã lên bờ nước.
    Tân vẫn cố rượt theo. Nhờ bước hỏng vào lũng cát sâu, cô gái ngã, Tân
    mới theo kịp. Gió và nước không làm nguội được sức nóng bừng bừng.
    Tân úp mặt lên cổ cô gái, dụi mặt vào trong tóc ngửi mùi hôi và rong rêu.
    Cô gái vẫn cười, hàm răng trắng óng ánh, đôi mắt long lanh, đôi tay trải
    dài trên cát làm phập phồng lồng ngực. Không nói năng gì, Tân ôm lấy
    thân thể ấm áp, sống trọn sự cuồng bạo dã thú. Miệng cô gái vẫn cười,
    nhưng đôi mắt nhắm nghiền, đôi tay chới với. Cả gió cả nước cả trăng
    đồng lòng thúc giục, trong khi cát vàng ấp ủ nâng niu.
    Khi ngồi lại trên cát nhìn khuôn mặt cô gái mắt vẫn còn nhắm nghiền như
    đứa bé ngủ say, Tân ngờ ngợ thấy quen. Nhưng không nhớ đã gặp cô ta
    lúc nào, ở đâu!
    *
    Lúc mấy người quân cảnh đẩy lên xe, chiếc GMC vẫn còn đó chưa đi. Hai
    tay bị khoá quặt ra sau, nên phải chật vật lắm Tân mới bước lên được cái
    bậc cấp, rồi cúi người luồn ra ra ngồi băng sau. Mấy người lính đứng bên
    ngoài không cần giữ ý, hỏi nhau:
    "Bắt được thằng chả ở đâu đó?"
    "Tận bãi cát gần khúc quanh của con sông".
    "Chắc xuống dưới an ninh trả lời không xuôi đâu. Cả tiểu đội chết, cây cầu
    sập, chỉ còn có một mình chả đi tắm".
    "Nghe mìn nổ trên cầu mà cứ tắm à?"
    "Không. Toán tiếp viện theo đường sông vòng lên, gặp nó đang bận quần
    áo và lấy súng chạy về".
    Tân ngồi im không nói năng gì. Phía trước xe, một nhóm người đang tụ

    tập quanh mấy cái xác. Có tiếng khóc nỉ non và kể lể rên la. Bỗng nhiên
    đám đông dạt cả ra, tránh lối cho lính khiêng một cái băng ca đi vào.
    Nhiều tiếng lao xao:
    "Một người nữa hả?"
    "Đâu phải lính. Xác đàn bà".
    "Dễ sợ. Ngực bị vỡ toang hết. Lượm ở đâu đó, trung sĩ?"
    "Bến chài. Lúc tụi tôi bọc hậu đón đầu bọn du kích, thì thấy nó hớt hải
    chạy từ phía cầu về. Hô đứng lại, nó cũng cứ chạy, nên mới nổ súng. Nếu
    biết là nó, thì không giết làm gì".
    "Vậy chớ ai đó?"
    "Con khùng xóm Chài".
    "Con khùng xóm Chài hay con khùng ngoài chợ?"
    "Cả hai đứa là một. Nó là con gái ông câu gõ. Cha nó chết cách đây mấy
    năm. Nó xin ăn ngoài chợ, và hễ cứ đến mùa trăng là nổi cơn".
    Tân nghe được câu chuyện, lịm người không dám nhìn về phía trước. Bên
    cửa trái, người tài xế xe GMC đang xem lại máy móc trước khi lên đường.
    Bốn người lính hộ tống đã lên ngồi hai bên quan tài. Người tài xế đậy nắp
    ca bô, gọi với vào trong:
    "Ra đi cho sớm chị".
    Người đàn bà ẵm đứa con ra xe. Mái tóc bù xù. Cái áo trắng vải thô và
    vành khăn tang nhàu nát, dơ dáy. Lúc đi ngang qua xe quân cảnh, người
    đàn bà vô tình nhìn vào phía Tân.
    Anh không tin ở mắt mình...
     
    Gửi ý kiến