LSVNBT T.05

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:19' 15-05-2024
Dung lượng: 4.6 MB
Số lượt tải: 1
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:19' 15-05-2024
Dung lượng: 4.6 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ nhất
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Trung Tín, Nguyễn Đức Hòa
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Nước Âu Lạc / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân, Phan An biên soạn ; họa
sĩ Nguyễn Đức Hòa, Nguyễn Trung Tín. - Tái bản lần thứ 1. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
106 tr. ; 21 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.5).
1. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Thục, 257-208 trước công nguyên — Sách tranh . I.
Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Phan An. IV. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Thuc dynasty, 257-208 B.C. — Pictorial works.
959.7012 — dc 22
N973
LỜI GIỚI THIỆU
Có thịnh ắt có suy, ấy là quy luật từ xa xưa. Hùng Vương
mười tám mải mê tửu sắc, chẳng màng việc nước đã làm cho
Văn Lang hùng mạnh năm nào bước vào suy vong. Nhưng có
suy rồi ắt sẽ lại thịnh, An Dương Vương lên ngôi, hòa hợp hai
bộ tộc Lạc Việt và Âu Việt, lập nên nước Âu Lạc.
Vào buổi ấy, do vẫn chưa có chữ viết, người Âu Lạc vẫn
tiếp tục truyền tải những ước mơ, khát vọng thông qua những
truyền thuyết vẫn còn mang đậm màu sắc huyền thoại, kì bí
nhưng qua đó vẫn cho ta biết thêm nhiều điều về cuộc sống
của người dân lúc bấy giờ.
Âu Lạc hùng mạnh, Âu Lạc phồn thịnh nên sẽ chẳng thể nào
tránh được sự dòm ngó của phiên bang. Tần Thủy Hoàng cai trị
cả một Trung Hoa rộng lớn vẫn ngó nghiêng về Âu Lạc. Nhưng
Âu Lạc chẳng thiếu tướng tài, binh dũng để chiến đấu với kẻ
thù, khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ, vỡ mộng xâm lược nước ta.
Nhưng An Dương Vương lơ là cảnh giác, bởi My. Châu nhẹ
dạ cả tin, nước ta đã rơi vào ách thống trị của phương Bắc. Từ
đây, một ngàn năm Bắc thuộc đen tối của dân ta đã bắt đầu.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 5 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Nước Âu Lạc” phần lời do Tôn Nữ
Quỳnh Trân và Phan An biên soạn, phần hình ảnh do họa sĩ
Nguyễn Đức Hòa và Nguyễn Trung Tín thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 5 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
An Dương Vương là vị vua lập nên Âu Lạc nhưng
cũng chính là vị vua duy nhất cai trị nhà nước này. Âu
Lạc cũng chính là nhà nước thứ hai trong lịch sử nước
ta, sau nhà nước Văn Lang của các vua Hùng.
Lý Ông Trọng là một con người phi thường về tài năng
lẫn vóc dáng. Tiếng tăm lẫy lừng, nhà Tần cũng phải
nhờ đến sự giúp sức của ông mới trải qua nạn Hung Nô.
Chuyện tình My. Châu – Trọng Thủy đã dẫn đến việc
bắt đầu ách đô hộ của phương Bắc ở nước ta. Đấy cũng
chính là bài học cảnh giác, răn dạy mọi người phải luôn
thận trọng, đừng quá nhẹ dạ, cả tin.
4
XÂY THÀNH CỔ LOA
5
6
Đến tuổi già yếu, Hùng Vương thứ mười tám sinh ra chểnh mảng,
ít lo việc nước. Thủ lĩnh nước Tây Âu là Thục Phán thường đem quân
đến quấy nhiễu nhưng Văn Lang vẫn còn tướng mạnh quân khỏe nên
đều đẩy lui được các cuộc tấn công ấy. Thấy thế, Hùng Vương lại
càng coi thường, thường bảo:
- Ta có sức thần, nước Thục không sợ sao?
Và từ đấy nhà vua chỉ lo uống rượu, đàn hát, quên hết mọi sự
phòng thủ cần thiết.
7
Thục Phán cho người dò la biết được tình hình ấy nên càng
quyết chí chiếm lấy Văn Lang. Sau khi chuẩn bị binh mã hùng
mạnh, vào năm 257 trước Tây lịch, Thục Phán đốc quân tiến đánh
Văn Lang. Vua Hùng không để tâm vẫn thản nhiên uống rượu tràn
be. Đến khi quân Thục ập được vào cung, vua Hùng đang còn say
mèm không biết trời đất gì.
Lúc vua tỉnh được rượu cũng là lúc quân Thục đã làm chủ
mọi nơi. Cùng đường vua nhảy xuống giếng tự tử.
8
Sau cái chết của vua Hùng, Thục Phán hợp nhất đất đai Tây
Âu vào nước Văn Lang, lập nên Âu Lạc. Cũng cùng một dòng
Bách Việt mà ra nên hai dân tộc Tây Âu và Lạc Việt hòa đồng vào
nhau rất dễ dàng. Thục Phán lên ngôi vua lấy hiệu là An Dương
Vương (Thục An Dương Vương), đóng đô tại Phong Châu, kinh
đô cũ của các vua Hùng.
Tục truyền rằng khi lên ngôi, Thục Phán mới 22 tuổi và làm
vua được 50 năm.
9
An Dương Vương
Lạc hầu
Lạc tướng
Tả tướng
An Dương Vương vẫn giữ lại hàng ngũ các Lạc hầu, Lạc tướng
đặt thêm chức Tả tướng để giúp vua trị nước. Trong các tướng có
Cao Lỗ là người tài giỏi nhất.
Cao Lỗ quê ở bộ Vũ Thường (Bắc Ninh), vốn giỏi võ nghệ từ
nhỏ và được dân chúng ở quê nhà gọi là Đô Lỗ. Khi lớn lên, ông
theo An Dương Vương đánh đông dẹp bắc và được phong cho
tước hầu.
10
An Dương Vương vẫn giữ tổ chức hành chánh như cũ. Các bộ
vẫn do các Lạc tướng chỉ huy và vẫn giữ quyền cha truyền con nối.
Có khoảng 17 bộ, trong đó có các bộ nổi tiếng trong lịch sử như:
Mê Linh, Long Biên, Tây Vu, Chu Diên, Liên Lâu, Tư Phố... Bộ
Tây Vu là bộ quan trọng nhất của Thục Phán, nằm ở miền thượng
lưu sông Lô. Dưới các bộ là các công xã nông thôn (làng) có Bố
chính đứng đầu. Các Bố chính phần nhiều giàu có và được dân
làng kính nể.
Bản đồ hành chính Âu Lạc
11
Lưỡi cày đồng
Dân số Âu Lạc ước chừng một triệu người. Cuộc sống của họ
có phần sung túc hơn lúc trước. Mức độ phát triển xã hội có cao
hơn và đã có người giàu kẻ nghèo. Họ vẫn giữ nghề đánh cá ven
sông suối nhưng đã biết trồng mía ép mật làm đường, biết dùng
trâu bò để kéo cày, đúc nông cụ bằng sắt để làm ruộng, làm vườn.
Họ làm rẫy ở các đồi thoải, cấy lúa nước ở các ruộng trũng. Bao
quanh các nhà sàn đã thấy xuất hiện các vườn cây ăn trái như
chuối, cam, lệ chi (vải)...
12
Đặc biệt là nhà nhà đều có vài gốc cau, vài dây trầu không,
vì ăn trầu cau đã trở thành thói quen hàng ngày của dân Âu Lạc.
Các gia đình đều nuôi gia súc như chó, gà, lợn, trâu. Có rất nhiều
ngan ngỗng, nhưng cốt dùng lông để làm áo, gối, chăn chứ không
phải để ăn. Dân Âu Lạc cũng đã cải thiện các nghề thủ công của
mình. Gốm được nung với nhiệt độ cao hơn trước và trở nên chắc
bền với nhiều kiểu hoa văn. Có hoa văn hình thừng thô to, có hoa
văn như sóng nước cuồn cuộn.
13
Họ còn biết nung ngói, nung gạch để xây tường, xây giếng, tuy
chưa phổ biến lắm. Đàn ông vẫn còn đóng khố nhưng đã mặc áo.
Đó là kiểu áo chui đầu hoặc cài cúc bên trái. Dân chúng thường
đem thổ sản của mình trao đổi cho nhau. Dân Lạc có nhiều gạo,
gốm, ngọc trai để đổi với dây Tây Âu giàu đồng, thiếc, sừng tê,
ngà voi. Họ tiếp tục cuộc sống hồn nhiên của thời trước.
14
Sau khi ổn định việc nước, An Dương Vương cho dời đô về
một vùng đất cao ráo nằm kề sông Hoàng Giang (ngày nay là
Đông Anh, Hà Nội). Sông Hoàng Giang vốn là một nhánh của
sông Hồng. Như thế, đất này vừa thông được đường thủy lại nhờ
ở nơi cao nên tránh được lụt lội, thật là thuận tiện. Không bao lâu
sau, vua hạ lệnh xây thành để bảo vệ kinh đô. Thế là hàng nghìn
thợ thủ công, hàng vạn nhân công được tập trung để tiến hành
việc xây thành.
15
Họ hì hục đào đất, khuân đá, làm việc dưới nắng cháy mưa tuôn.
Bức tường thành bao quanh kinh đô cao dần lên từng ngày. An Dương
Vương vô cùng vừa lòng, định ngày khánh thành. Nhưng than ôi, ngày
trọng đại chưa được định thì tai họa đã ập đến. Trong một đêm, một
tiếng nổ long trời lở đất vang dội và sáng hôm sau, bức tường thành
cao sừng sững chỉ còn là một đống đất đá vụn nát.
16
Dân chúng bàng hoàng, An Dương Vương và quần thần ngơ
ngác tiếc công. Tướng Cao Lỗ vò đầu bứt tai, lệnh cho quan lại
truy tìm nguyên nhân lập tức. Thật là uổng công. Nguyên nhân có
được chỉ là những lời phỏng đoán vì chuyện xảy ra trong đêm tối
khi mà mọi nhà đều đã rút cầu thang, yên ngủ. Đống đất đá nát
vụn còn đó nhưng lại câm nín. Quan lại đi không lại trở về không.
17
An Dương Vương không nản chí. Vua ra lệnh xây dựng lại bức
tường thành. Thế là mọi người lại cố sức làm việc. Lần này họ rút
kinh nghiệm, xây phần nền móng bè rộng ra để đủ sức chịu đựng
bức tường cao ngất. Tường thành lại cao dần lên theo hy vọng của
dân chúng và của An Dương Vương. Nhưng rồi một đêm, tiếng
nổ long trời lở đất ấy lại vang lên. Bức tường thành cao ngất hôm
trước lại chỉ còn là đống đất đá ngổn ngang.
18
An Dương Vương cùng tướng Cao Lỗ thân hành đến xem xét
tại chỗ nhưng cũng đành chịu không tìm ra nguyên nhân. Vua lại
cho xây thành và thành lại lở. Sau lần thất bại thứ ba, vua bèn
cho lập đàn để cầu đảo trời đất phù hộ cho mình. Một hương án
nghi ngút khói được lập bên bờ sông Hoàng Giang. Vua làm lễ tế
long trọng. Bỗng thấy một ông lão phương phi, râu tóc bạc phơ
từ hướng đông bước tới.
19
Ông lão tự xưng là thổ thần và bảo:
- Vua xây thành như thế này không bao giờ xong được đâu.
An Dương Vương lo âu trả lời:
- Ta đắp thành này đã nhiều lần băng lở, tốn nhiều công sức
mà không thành. Thế là cớ làm sao?
- Nhà vua đừng lo, ngày mai hãy ra bờ sông đợi. Sứ giả Thanh
Giang sẽ đến giúp.
Nói đoạn, thổ thần biến mất.
20
Ngày hôm sau, nhà vua dậy sớm ra bờ sông đợi. Bỗng thấy từ
đằng đông một con Rùa Vàng to lớn nổi lên bơi lại. Đến trước
mặt vua, rùa bảo:
- Ta là thần Kim Quy và là sứ giả Thanh Giang. Ta đến giúp
nhà vua xây thành đây.
An Dương Vương mừng rỡ, sai lấy chiếc mâm vàng sáng bóng
long trọng rước thần Kim Quy vào cung hỏi cách xây thành.
21
Thần Kim Quy cho hay:
- Thành không xây được là do oan hồn của vua trước muốn báo
thù. Có con gà trắng sống ngàn năm thành tinh ở núi Thất Diệu,
thường ghé vào quán trọ gần chân núi để hãm hại người qua đường.
Gà tinh biết khích oan hồn của vua trước và của các quân lính đã
chết oan trong trận nhà vua tấn công Hùng Vương mười tám. Cho
nên, hễ mỗi lần xây thành xong là gà tinh lại ngậm lá thư của các
oan hồn bay lên cây chiên đàn, dâng cho nhà trời xin phá thành.
22
Nhà vua lo âu hỏi:
- Bây giờ phải làm thế nào?
- Vua đừng lo. Hãy sửa soạn cùng ta đến quán trọ. Ta sẽ thừa
thế cắn rơi lá thư, nhà vua tức tốc nhặt lấy, ắt là mọi việc sẽ xong.
An Dương Vương nghe lời, cùng Cao Lỗ cải trang làm kẻ đi
đường, đem theo thần Kim Quy, đến quán trọ gần chân núi Thất
Diệu thuê ngủ qua đêm.
23
Chủ quán bảo hai vị khách:
- Quán này có yêu tinh thường hiện về ban đêm để giết các
khách trọ. Xin hai ông chớ nên ở lại.
An Dương Vương không hề lo lắng. Vua bảo:
- Ma quỷ làm gì được ta. Ta không sợ.
Thấy không thể cản được, chủ quán đành để hai người ngủ lại.
24
Đến nửa đêm, quả nhiên có tiếng la thét ở bên ngoài phòng của
nhà vua rồi một giọng nói rền như sấm vang lên:
- Hãy mở cửa trời ra!
Đồng thời hàng loạt tiếng động ầm ầm va vào cửa dường như
có một sức mạnh vô hình muốn tông cửa xông vào phòng.
Rùa Vàng lớn tiếng quát trả:
- Hãy đóng cửa đất lại!
25
Tiếng động bên ngoài bỗng im bặt, nghe dường như có tiếng
chân chạy xa dần. Nhà vua và Cao Lỗ phóng đuổi theo, chỉ thấy
thấp thoáng ở xa xa bóng con gà trắng đang chạy về núi Thất Diệu.
Đến chân núi, con gà trắng bỗng biến thành con cú sáu chân, mồm
ngậm lá thư bay lên cây chiên đàn. Rùa Vàng liền rùng mình biến
thành con chuột to lớn trèo lên cây, cắn vào chân cú. Cú đau quá
há miệng, lá thư rơi xuống. Nhà vua nhặt lấy xé ngay.
26
Lá thư tan tành, con cú cũng chết theo. Nhà vua sai người đào
núi, tìm ra được nhiều hài cốt và nhạc cụ. Vua liền sai đốt ra tro
rồi đem đổ xuống sông suối. Thế là đã trừ được tai ương.
Xong việc, nhà vua quay trở về kinh đô và tiến hành lại việc
xây thành.
27
Chỉ trong vòng nửa tháng là dân Âu Lạc đã xây xong thành.
Thành có ba vòng, hình dáng như con ốc nên sau này được gọi là
Loa Thành (loa là con ốc). Tổng cộng chiều dài của cả ba vòng
thành là hơn 16km. Vòng thành ở trung tâm (thành Trong) có hình
chữ nhật, bảo vệ cho cung điện của vua và hoàng gia. Vòng thành
kế tiếp là thành Giữa, bao bọc nơi ở của các quan, các Lạc hầu.
Thành Ngoài là dài nhất, dùng để che chắn cho doanh trại quân đội.
28
Chân thành nhiều nơi được kê đá. Trên mặt thành có nhiều ụ đất
đắp cao lên và nhô ra ngoài để làm vọng canh cho quân lính bảo vệ.
Phía ngoài của cả ba vòng thành đều có hào nước sâu và rộng từ 10
đến 30m. Ba vòng hào này đều thông với nhau, thông cả với sông
Hoàng Giang và với một cái đầm rất lớn gọi là Đầm Cả. Thuyền bè
dễ dàng lưu thông ngược xuôi từ trung tâm ra đến tận sông Hồng.
Còn Đầm Cả thì mênh mông, có khi tụ tập đến hàng trăm thuyền bè.
29
Hoa văn trên trống đồng miêu tả thủy quân
Với hệ thống sông hào như thế, tướng Cao Lỗ cho quân sĩ tập
luyện thủy trận và chẳng bao lâu ông thành lập được một đội thủy
quân. Đội thủy quân này rất năng động, khi ẩn khi hiện, biến hóa
khôn lường. Hôm nay còn ở trong Đầm Cả, ngày mai đã lênh đênh
xuôi sông Hồng ra biển. Bên cạnh thủy quân, bộ binh vẫn được
duy trì và phát triển. Binh sĩ được trang bị nhiều loại vũ khí, đó
là các rìu, giáo mác, dao găm bằng đồng và cung tên. Nhưng đặc
biệt hơn cả là nỏ Liên Châu.
30
Hàng vạn mũi tên đồng đào được ở Cổ Loa
Nỏ Liên Châu là do tướng Cao Lỗ sáng chế, mỗi lần có thể
bắn được nhiều mũi tên liên tục chớp nhoáng, đối phương khó bề
tránh được. Để tăng thêm phần lợi hại, tướng Cao Lỗ cho chế mũi
tên đồng có ba cạnh sắc bén. Từ đấy nỏ Liên Châu trở thành một
vũ khí lợi hại của thủy quân Âu Lạc. Nơi nơi vang lên lời khâm
phục tướng Cao Lỗ.
31
Để bảo vệ thành, tướng Cao Lỗ đã cho chế tạo hàng vạn mũi
tên đồng ba cạnh. Ngoài mũi tên đồng ba cạnh này, quân lính Âu
Lạc còn dùng mũi tên tre có tẩm thuốc độc và mũi tên bằng đá.
Thời hưng thịnh của việc dùng nỏ còn để lại dấu vết ở một vài
tên gọi tại Cổ Loa như Gò Đống Bắn, Gò Pháo Đài, xã Uy Nỗ...
32
Ngự triều dị
quy – nơi
vua hội họp
quần thần
Sau ba năm ở lại giúp An Dương Vương, thần Kim Quy từ giã
ra đi. Nhà vua vô cùng quyến luyến, muốn lưu lại nhưng không
được đành cảm tạ:
- Nhờ ơn thần ta mới xây được thành. Sau này nếu có giặc giã
xâm lấn bờ cõi thì ta phải làm gì?
Thần Kim Quy đáp lại:
- Hãy tu đức để được lòng người và giữ an đất nước. Còn ta
xin tặng nhà vua vật này để có thể đẩy lui quân giặc.
33
Nói đoạn, Rùa Vàng tháo chiếc móng của mình, trao cho An
Dương Vương:
- Nhà vua hãy lấy chiếc vuốt này làm lẫy nỏ, khi có giặc đem
ra bắn thì một phát có thể giết được hàng chục tên.
An Dương Vương bùi ngùi cầm lấy chiếc móng và tiễn Rùa
Vàng ra đến tận bờ sông. Rùa bơi đi một đoạn, quay đầu lại gật
ba lần chào nhà vua rồi lặn xuống biến mất dưới làn nước.
34
Trở về cung, nhà vua trao chiếc móng cho tướng Cao Lỗ để thử
nghiệm. Tướng Cao Lỗ bèn đi tìm một nơi thích hợp cho cuộc bắn
thử. Không bao lâu ông đã tìm thấy. Đó là một ngọn đồi, thoai thoải
phía dưới là rừng cây ngút ngàn rộng có đến hàng trăm dặm. Tướng
Cao Lỗ thỉnh vua ra ngự lãm. Một tay cầm chiếc nỏ Liên Châu, tay
kia cầm chiếc móng rùa, lưng mang giỏ tên đầy ắp, Cao Lỗ tiến lên
đỉnh đồi.
Nhắm hướng rừng cây, ông buông tên.
35
Một tiếng nổ long trời vang lên, hàng loạt mũi tên xé gió vút đi.
Trước khi mọi người kịp định thần, lại có tiếng rào rào vẳng đến. Thì
ra cả khu rừng cây đang gãy cành, trút lá. Chẳng mấy chốc khu rừng
xanh um trước kia chỉ còn lại các gốc cây chỏng chơ không lá không
cành. Ai nấy bàng hoàng trước sức mạnh kỳ diệu của chiếc nỏ. An
Dương Vương bèn đặt tên cho chiếc nỏ là “Linh Quang Kim Trảo
Thần Nỏ”. Còn dân chúng thì thành kính gọi là “Nỏ Thần”.
Bàn thờ Nỏ Thần
ở Cổ Loa
36
An Dương Vương vô cùng quý Nỏ Thần, đem treo ở chỗ nằm
để được hàng ngày ngắm nghía và cũng để bảo vệ an toàn cho
món vũ khí có một không hai ấy.
Từ đấy, kinh đô của An Dương Vương có thành Cổ Loa bảo vệ,
đất nước Âu Lạc có Nỏ Thần giữ an. Khắp nơi dân chúng sống
đời thịnh trị, hạnh phúc.
37
Các nước láng giềng chung quanh thường kính nể và thường
qua lại giao hiếu cùng trao đổi buôn bán. Riêng nước Tần khổng
lồ ở phương bắc lại có tham vọng bành trướng, nhà vua đã phải
dùng đường lối ngoại giao mềm dẻo để tránh sự đổ máu của dân
chúng. Có câu thơ ca tụng thời ấy như sau:
Nhờ Nỏ ấy giữ an bờ cõi,
Năm mươi năm vui hội thanh bình.
Thờ Tần vua đã nhún mình,
Vẫn còn chưa vẹn mối tình bang giao. (*)
* Thơ của Đãi Sinh Vũ Huy Chân trong Việt Sử Thông Lãm (Sài Gòn, 1973, tr.13).
38
Cho đến nay, hàng mấy ngàn năm đã trôi qua mà dấu tích Cổ
Loa còn để lại nhiều đoạn thành ở huyện Đông Anh, ngoại thành
Hà Nội. Trong lòng đất Cổ Loa, các nhà khảo cổ còn đào được
hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh. Về sau, hàng năm cứ vào mùng
6 tết, dân chúng mở hội Cổ Loa để kỷ niệm ngày vua nhập cung.
Và thành Cổ Loa xứng đáng là niềm tự hào của dân tộc.
Ai về qua huyện Đông Anh,
Ghé thăm phong cảnh Loa thành Thục Vương.
Di tích còn lại của
một đoạn thành Cổ Loa
39
40
LÝ ÔNG TRỌNG
41
42
Vào khoảng cuối đời vua Hùng thứ mười tám, ở làng Chèm
(nay thuộc ngoại thành Hà Nội), có một người trai dị thường tên
là Lý Thân. Thân mình anh ta cao to quá khổ, cao đến hai trượng
sáu thước ta (khoảng hơn 3m). Chân tay anh ta cũng to dài, vạm
vỡ, các cuộc thi vật tay trong hội làng hàng năm anh đều đoạt
giải nhất. Sức mạnh của anh không trai làng nào địch nổi, họ rất
nể trọng và gọi anh là Ông Trọng.
43
Bố mất sớm, Lý Ông Trọng sống cùng mẹ trong ngôi nhà nhỏ
rách nát đầu làng, gần bên sông Cái (*). Một hôm người mẹ ra sông
lấy nước, bị một con thuồng luồng nơi vực sâu bắt mất. Thời ấy
thuồng luồng là giống thủy quái gây nhiều tai vạ cho người dân.
Bởi vậy dân Lạc Việt có tục xăm mình cho giống các loài thủy
quái để mong chúng không làm hại mình.
* Sông Cái tức là sông Hồng bây giờ.
44
Được tin, Ông Trọng quyết tâm trừ diệt con thủy quái để trả
thù cho mẹ và bảo vệ cuộc sống yên ổn của dân làng. Chàng
bèn dùng sức đắp đê chắn ngang khúc sông có thuồng luồng, rồi
tát cạn nước. Đợi khi đáy sông lộ ra, chàng nhảy xuống dùng đôi
tay lực lưỡng, tóm cổ con thuồng luồng lôi thẳng lên bờ.
45
Ngay trên bến sông, chàng xé xác con thuồng luồng làm
lễ tế mẹ và dân làng bị hại. Sau đó, chàng nổi lửa nướng thịt
thuồng luồng rồi một mình ăn cho bằng hết. Tục truyền rằng,
từ đó, cả khúc sông Cái trước làng Chèm vắng bóng loài thủy
quái hung dữ. Dân làng ngày càng khâm phục và yêu quý chàng.
46
Một lần, trong một cuộc đấu vật, Lý Ông Trọng lỡ tay làm chết
người. Thời bấy giờ, những vụ trọng án như giết người đều phải
do nhà vua trực tiếp xét xử. Vua Hùng thấy chàng vừa có sức khỏe
lại có tài trí, không cố ý giết người nên giảm tội cho. Chàng được
sung vào đội thị vệ hầu hạ và bảo vệ nhà vua. Nhờ vậy, chàng có
dịp lập nhiều chiến công, nức tiếng là một người vũ dũng tài trí.
47
Đến thời An Dương Vương, Lý Ông Trọng vẫn được trọng dụng.
Khi nước Âu Lạc lệ thuộc vào nhà Tần phương bắc, tiếng tăm của
Lý Ông Trọng khiến Tần Thủy Hoàng phải hâm mộ. Nhà Tần cho
sứ sang đòi nước ta phải cống nộp Lý Ông Trọng. An Dương Vương
không có cách gì từ chối đành để Lý Ông Trọng sang Tần, giữ tình
hòa hiếu giữa hai nước.
48
Hình vẽ do phòng vẽ “Lịch sử Việt Nam bằng tranh” thực hiện
Họa sĩ thể hiện: Nguyễn Trung Tín, Nguyễn Đức Hòa
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Nước Âu Lạc / Trần Bạch Đằng chủ biên ; Tôn Nữ Quỳnh Trân, Phan An biên soạn ; họa
sĩ Nguyễn Đức Hòa, Nguyễn Trung Tín. - Tái bản lần thứ 1. - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
106 tr. ; 21 cm. - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh ; T.5).
1. Việt Nam — Lịch sử — Triều nhà Thục, 257-208 trước công nguyên — Sách tranh . I.
Trần Bạch Đằng. II. Tôn Nữ Quỳnh Trân. III. Phan An. IV. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnam — History — Thuc dynasty, 257-208 B.C. — Pictorial works.
959.7012 — dc 22
N973
LỜI GIỚI THIỆU
Có thịnh ắt có suy, ấy là quy luật từ xa xưa. Hùng Vương
mười tám mải mê tửu sắc, chẳng màng việc nước đã làm cho
Văn Lang hùng mạnh năm nào bước vào suy vong. Nhưng có
suy rồi ắt sẽ lại thịnh, An Dương Vương lên ngôi, hòa hợp hai
bộ tộc Lạc Việt và Âu Việt, lập nên nước Âu Lạc.
Vào buổi ấy, do vẫn chưa có chữ viết, người Âu Lạc vẫn
tiếp tục truyền tải những ước mơ, khát vọng thông qua những
truyền thuyết vẫn còn mang đậm màu sắc huyền thoại, kì bí
nhưng qua đó vẫn cho ta biết thêm nhiều điều về cuộc sống
của người dân lúc bấy giờ.
Âu Lạc hùng mạnh, Âu Lạc phồn thịnh nên sẽ chẳng thể nào
tránh được sự dòm ngó của phiên bang. Tần Thủy Hoàng cai trị
cả một Trung Hoa rộng lớn vẫn ngó nghiêng về Âu Lạc. Nhưng
Âu Lạc chẳng thiếu tướng tài, binh dũng để chiến đấu với kẻ
thù, khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ, vỡ mộng xâm lược nước ta.
Nhưng An Dương Vương lơ là cảnh giác, bởi My. Châu nhẹ
dạ cả tin, nước ta đã rơi vào ách thống trị của phương Bắc. Từ
đây, một ngàn năm Bắc thuộc đen tối của dân ta đã bắt đầu.
Những nội dung trên được truyền tải trong tập 5 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh “Nước Âu Lạc” phần lời do Tôn Nữ
Quỳnh Trân và Phan An biên soạn, phần hình ảnh do họa sĩ
Nguyễn Đức Hòa và Nguyễn Trung Tín thể hiện.
Nhà xuất bản Trẻ xin trân trọng giới thiệu tập 5 của bộ Lịch
sử Việt Nam bằng tranh.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
3
An Dương Vương là vị vua lập nên Âu Lạc nhưng
cũng chính là vị vua duy nhất cai trị nhà nước này. Âu
Lạc cũng chính là nhà nước thứ hai trong lịch sử nước
ta, sau nhà nước Văn Lang của các vua Hùng.
Lý Ông Trọng là một con người phi thường về tài năng
lẫn vóc dáng. Tiếng tăm lẫy lừng, nhà Tần cũng phải
nhờ đến sự giúp sức của ông mới trải qua nạn Hung Nô.
Chuyện tình My. Châu – Trọng Thủy đã dẫn đến việc
bắt đầu ách đô hộ của phương Bắc ở nước ta. Đấy cũng
chính là bài học cảnh giác, răn dạy mọi người phải luôn
thận trọng, đừng quá nhẹ dạ, cả tin.
4
XÂY THÀNH CỔ LOA
5
6
Đến tuổi già yếu, Hùng Vương thứ mười tám sinh ra chểnh mảng,
ít lo việc nước. Thủ lĩnh nước Tây Âu là Thục Phán thường đem quân
đến quấy nhiễu nhưng Văn Lang vẫn còn tướng mạnh quân khỏe nên
đều đẩy lui được các cuộc tấn công ấy. Thấy thế, Hùng Vương lại
càng coi thường, thường bảo:
- Ta có sức thần, nước Thục không sợ sao?
Và từ đấy nhà vua chỉ lo uống rượu, đàn hát, quên hết mọi sự
phòng thủ cần thiết.
7
Thục Phán cho người dò la biết được tình hình ấy nên càng
quyết chí chiếm lấy Văn Lang. Sau khi chuẩn bị binh mã hùng
mạnh, vào năm 257 trước Tây lịch, Thục Phán đốc quân tiến đánh
Văn Lang. Vua Hùng không để tâm vẫn thản nhiên uống rượu tràn
be. Đến khi quân Thục ập được vào cung, vua Hùng đang còn say
mèm không biết trời đất gì.
Lúc vua tỉnh được rượu cũng là lúc quân Thục đã làm chủ
mọi nơi. Cùng đường vua nhảy xuống giếng tự tử.
8
Sau cái chết của vua Hùng, Thục Phán hợp nhất đất đai Tây
Âu vào nước Văn Lang, lập nên Âu Lạc. Cũng cùng một dòng
Bách Việt mà ra nên hai dân tộc Tây Âu và Lạc Việt hòa đồng vào
nhau rất dễ dàng. Thục Phán lên ngôi vua lấy hiệu là An Dương
Vương (Thục An Dương Vương), đóng đô tại Phong Châu, kinh
đô cũ của các vua Hùng.
Tục truyền rằng khi lên ngôi, Thục Phán mới 22 tuổi và làm
vua được 50 năm.
9
An Dương Vương
Lạc hầu
Lạc tướng
Tả tướng
An Dương Vương vẫn giữ lại hàng ngũ các Lạc hầu, Lạc tướng
đặt thêm chức Tả tướng để giúp vua trị nước. Trong các tướng có
Cao Lỗ là người tài giỏi nhất.
Cao Lỗ quê ở bộ Vũ Thường (Bắc Ninh), vốn giỏi võ nghệ từ
nhỏ và được dân chúng ở quê nhà gọi là Đô Lỗ. Khi lớn lên, ông
theo An Dương Vương đánh đông dẹp bắc và được phong cho
tước hầu.
10
An Dương Vương vẫn giữ tổ chức hành chánh như cũ. Các bộ
vẫn do các Lạc tướng chỉ huy và vẫn giữ quyền cha truyền con nối.
Có khoảng 17 bộ, trong đó có các bộ nổi tiếng trong lịch sử như:
Mê Linh, Long Biên, Tây Vu, Chu Diên, Liên Lâu, Tư Phố... Bộ
Tây Vu là bộ quan trọng nhất của Thục Phán, nằm ở miền thượng
lưu sông Lô. Dưới các bộ là các công xã nông thôn (làng) có Bố
chính đứng đầu. Các Bố chính phần nhiều giàu có và được dân
làng kính nể.
Bản đồ hành chính Âu Lạc
11
Lưỡi cày đồng
Dân số Âu Lạc ước chừng một triệu người. Cuộc sống của họ
có phần sung túc hơn lúc trước. Mức độ phát triển xã hội có cao
hơn và đã có người giàu kẻ nghèo. Họ vẫn giữ nghề đánh cá ven
sông suối nhưng đã biết trồng mía ép mật làm đường, biết dùng
trâu bò để kéo cày, đúc nông cụ bằng sắt để làm ruộng, làm vườn.
Họ làm rẫy ở các đồi thoải, cấy lúa nước ở các ruộng trũng. Bao
quanh các nhà sàn đã thấy xuất hiện các vườn cây ăn trái như
chuối, cam, lệ chi (vải)...
12
Đặc biệt là nhà nhà đều có vài gốc cau, vài dây trầu không,
vì ăn trầu cau đã trở thành thói quen hàng ngày của dân Âu Lạc.
Các gia đình đều nuôi gia súc như chó, gà, lợn, trâu. Có rất nhiều
ngan ngỗng, nhưng cốt dùng lông để làm áo, gối, chăn chứ không
phải để ăn. Dân Âu Lạc cũng đã cải thiện các nghề thủ công của
mình. Gốm được nung với nhiệt độ cao hơn trước và trở nên chắc
bền với nhiều kiểu hoa văn. Có hoa văn hình thừng thô to, có hoa
văn như sóng nước cuồn cuộn.
13
Họ còn biết nung ngói, nung gạch để xây tường, xây giếng, tuy
chưa phổ biến lắm. Đàn ông vẫn còn đóng khố nhưng đã mặc áo.
Đó là kiểu áo chui đầu hoặc cài cúc bên trái. Dân chúng thường
đem thổ sản của mình trao đổi cho nhau. Dân Lạc có nhiều gạo,
gốm, ngọc trai để đổi với dây Tây Âu giàu đồng, thiếc, sừng tê,
ngà voi. Họ tiếp tục cuộc sống hồn nhiên của thời trước.
14
Sau khi ổn định việc nước, An Dương Vương cho dời đô về
một vùng đất cao ráo nằm kề sông Hoàng Giang (ngày nay là
Đông Anh, Hà Nội). Sông Hoàng Giang vốn là một nhánh của
sông Hồng. Như thế, đất này vừa thông được đường thủy lại nhờ
ở nơi cao nên tránh được lụt lội, thật là thuận tiện. Không bao lâu
sau, vua hạ lệnh xây thành để bảo vệ kinh đô. Thế là hàng nghìn
thợ thủ công, hàng vạn nhân công được tập trung để tiến hành
việc xây thành.
15
Họ hì hục đào đất, khuân đá, làm việc dưới nắng cháy mưa tuôn.
Bức tường thành bao quanh kinh đô cao dần lên từng ngày. An Dương
Vương vô cùng vừa lòng, định ngày khánh thành. Nhưng than ôi, ngày
trọng đại chưa được định thì tai họa đã ập đến. Trong một đêm, một
tiếng nổ long trời lở đất vang dội và sáng hôm sau, bức tường thành
cao sừng sững chỉ còn là một đống đất đá vụn nát.
16
Dân chúng bàng hoàng, An Dương Vương và quần thần ngơ
ngác tiếc công. Tướng Cao Lỗ vò đầu bứt tai, lệnh cho quan lại
truy tìm nguyên nhân lập tức. Thật là uổng công. Nguyên nhân có
được chỉ là những lời phỏng đoán vì chuyện xảy ra trong đêm tối
khi mà mọi nhà đều đã rút cầu thang, yên ngủ. Đống đất đá nát
vụn còn đó nhưng lại câm nín. Quan lại đi không lại trở về không.
17
An Dương Vương không nản chí. Vua ra lệnh xây dựng lại bức
tường thành. Thế là mọi người lại cố sức làm việc. Lần này họ rút
kinh nghiệm, xây phần nền móng bè rộng ra để đủ sức chịu đựng
bức tường cao ngất. Tường thành lại cao dần lên theo hy vọng của
dân chúng và của An Dương Vương. Nhưng rồi một đêm, tiếng
nổ long trời lở đất ấy lại vang lên. Bức tường thành cao ngất hôm
trước lại chỉ còn là đống đất đá ngổn ngang.
18
An Dương Vương cùng tướng Cao Lỗ thân hành đến xem xét
tại chỗ nhưng cũng đành chịu không tìm ra nguyên nhân. Vua lại
cho xây thành và thành lại lở. Sau lần thất bại thứ ba, vua bèn
cho lập đàn để cầu đảo trời đất phù hộ cho mình. Một hương án
nghi ngút khói được lập bên bờ sông Hoàng Giang. Vua làm lễ tế
long trọng. Bỗng thấy một ông lão phương phi, râu tóc bạc phơ
từ hướng đông bước tới.
19
Ông lão tự xưng là thổ thần và bảo:
- Vua xây thành như thế này không bao giờ xong được đâu.
An Dương Vương lo âu trả lời:
- Ta đắp thành này đã nhiều lần băng lở, tốn nhiều công sức
mà không thành. Thế là cớ làm sao?
- Nhà vua đừng lo, ngày mai hãy ra bờ sông đợi. Sứ giả Thanh
Giang sẽ đến giúp.
Nói đoạn, thổ thần biến mất.
20
Ngày hôm sau, nhà vua dậy sớm ra bờ sông đợi. Bỗng thấy từ
đằng đông một con Rùa Vàng to lớn nổi lên bơi lại. Đến trước
mặt vua, rùa bảo:
- Ta là thần Kim Quy và là sứ giả Thanh Giang. Ta đến giúp
nhà vua xây thành đây.
An Dương Vương mừng rỡ, sai lấy chiếc mâm vàng sáng bóng
long trọng rước thần Kim Quy vào cung hỏi cách xây thành.
21
Thần Kim Quy cho hay:
- Thành không xây được là do oan hồn của vua trước muốn báo
thù. Có con gà trắng sống ngàn năm thành tinh ở núi Thất Diệu,
thường ghé vào quán trọ gần chân núi để hãm hại người qua đường.
Gà tinh biết khích oan hồn của vua trước và của các quân lính đã
chết oan trong trận nhà vua tấn công Hùng Vương mười tám. Cho
nên, hễ mỗi lần xây thành xong là gà tinh lại ngậm lá thư của các
oan hồn bay lên cây chiên đàn, dâng cho nhà trời xin phá thành.
22
Nhà vua lo âu hỏi:
- Bây giờ phải làm thế nào?
- Vua đừng lo. Hãy sửa soạn cùng ta đến quán trọ. Ta sẽ thừa
thế cắn rơi lá thư, nhà vua tức tốc nhặt lấy, ắt là mọi việc sẽ xong.
An Dương Vương nghe lời, cùng Cao Lỗ cải trang làm kẻ đi
đường, đem theo thần Kim Quy, đến quán trọ gần chân núi Thất
Diệu thuê ngủ qua đêm.
23
Chủ quán bảo hai vị khách:
- Quán này có yêu tinh thường hiện về ban đêm để giết các
khách trọ. Xin hai ông chớ nên ở lại.
An Dương Vương không hề lo lắng. Vua bảo:
- Ma quỷ làm gì được ta. Ta không sợ.
Thấy không thể cản được, chủ quán đành để hai người ngủ lại.
24
Đến nửa đêm, quả nhiên có tiếng la thét ở bên ngoài phòng của
nhà vua rồi một giọng nói rền như sấm vang lên:
- Hãy mở cửa trời ra!
Đồng thời hàng loạt tiếng động ầm ầm va vào cửa dường như
có một sức mạnh vô hình muốn tông cửa xông vào phòng.
Rùa Vàng lớn tiếng quát trả:
- Hãy đóng cửa đất lại!
25
Tiếng động bên ngoài bỗng im bặt, nghe dường như có tiếng
chân chạy xa dần. Nhà vua và Cao Lỗ phóng đuổi theo, chỉ thấy
thấp thoáng ở xa xa bóng con gà trắng đang chạy về núi Thất Diệu.
Đến chân núi, con gà trắng bỗng biến thành con cú sáu chân, mồm
ngậm lá thư bay lên cây chiên đàn. Rùa Vàng liền rùng mình biến
thành con chuột to lớn trèo lên cây, cắn vào chân cú. Cú đau quá
há miệng, lá thư rơi xuống. Nhà vua nhặt lấy xé ngay.
26
Lá thư tan tành, con cú cũng chết theo. Nhà vua sai người đào
núi, tìm ra được nhiều hài cốt và nhạc cụ. Vua liền sai đốt ra tro
rồi đem đổ xuống sông suối. Thế là đã trừ được tai ương.
Xong việc, nhà vua quay trở về kinh đô và tiến hành lại việc
xây thành.
27
Chỉ trong vòng nửa tháng là dân Âu Lạc đã xây xong thành.
Thành có ba vòng, hình dáng như con ốc nên sau này được gọi là
Loa Thành (loa là con ốc). Tổng cộng chiều dài của cả ba vòng
thành là hơn 16km. Vòng thành ở trung tâm (thành Trong) có hình
chữ nhật, bảo vệ cho cung điện của vua và hoàng gia. Vòng thành
kế tiếp là thành Giữa, bao bọc nơi ở của các quan, các Lạc hầu.
Thành Ngoài là dài nhất, dùng để che chắn cho doanh trại quân đội.
28
Chân thành nhiều nơi được kê đá. Trên mặt thành có nhiều ụ đất
đắp cao lên và nhô ra ngoài để làm vọng canh cho quân lính bảo vệ.
Phía ngoài của cả ba vòng thành đều có hào nước sâu và rộng từ 10
đến 30m. Ba vòng hào này đều thông với nhau, thông cả với sông
Hoàng Giang và với một cái đầm rất lớn gọi là Đầm Cả. Thuyền bè
dễ dàng lưu thông ngược xuôi từ trung tâm ra đến tận sông Hồng.
Còn Đầm Cả thì mênh mông, có khi tụ tập đến hàng trăm thuyền bè.
29
Hoa văn trên trống đồng miêu tả thủy quân
Với hệ thống sông hào như thế, tướng Cao Lỗ cho quân sĩ tập
luyện thủy trận và chẳng bao lâu ông thành lập được một đội thủy
quân. Đội thủy quân này rất năng động, khi ẩn khi hiện, biến hóa
khôn lường. Hôm nay còn ở trong Đầm Cả, ngày mai đã lênh đênh
xuôi sông Hồng ra biển. Bên cạnh thủy quân, bộ binh vẫn được
duy trì và phát triển. Binh sĩ được trang bị nhiều loại vũ khí, đó
là các rìu, giáo mác, dao găm bằng đồng và cung tên. Nhưng đặc
biệt hơn cả là nỏ Liên Châu.
30
Hàng vạn mũi tên đồng đào được ở Cổ Loa
Nỏ Liên Châu là do tướng Cao Lỗ sáng chế, mỗi lần có thể
bắn được nhiều mũi tên liên tục chớp nhoáng, đối phương khó bề
tránh được. Để tăng thêm phần lợi hại, tướng Cao Lỗ cho chế mũi
tên đồng có ba cạnh sắc bén. Từ đấy nỏ Liên Châu trở thành một
vũ khí lợi hại của thủy quân Âu Lạc. Nơi nơi vang lên lời khâm
phục tướng Cao Lỗ.
31
Để bảo vệ thành, tướng Cao Lỗ đã cho chế tạo hàng vạn mũi
tên đồng ba cạnh. Ngoài mũi tên đồng ba cạnh này, quân lính Âu
Lạc còn dùng mũi tên tre có tẩm thuốc độc và mũi tên bằng đá.
Thời hưng thịnh của việc dùng nỏ còn để lại dấu vết ở một vài
tên gọi tại Cổ Loa như Gò Đống Bắn, Gò Pháo Đài, xã Uy Nỗ...
32
Ngự triều dị
quy – nơi
vua hội họp
quần thần
Sau ba năm ở lại giúp An Dương Vương, thần Kim Quy từ giã
ra đi. Nhà vua vô cùng quyến luyến, muốn lưu lại nhưng không
được đành cảm tạ:
- Nhờ ơn thần ta mới xây được thành. Sau này nếu có giặc giã
xâm lấn bờ cõi thì ta phải làm gì?
Thần Kim Quy đáp lại:
- Hãy tu đức để được lòng người và giữ an đất nước. Còn ta
xin tặng nhà vua vật này để có thể đẩy lui quân giặc.
33
Nói đoạn, Rùa Vàng tháo chiếc móng của mình, trao cho An
Dương Vương:
- Nhà vua hãy lấy chiếc vuốt này làm lẫy nỏ, khi có giặc đem
ra bắn thì một phát có thể giết được hàng chục tên.
An Dương Vương bùi ngùi cầm lấy chiếc móng và tiễn Rùa
Vàng ra đến tận bờ sông. Rùa bơi đi một đoạn, quay đầu lại gật
ba lần chào nhà vua rồi lặn xuống biến mất dưới làn nước.
34
Trở về cung, nhà vua trao chiếc móng cho tướng Cao Lỗ để thử
nghiệm. Tướng Cao Lỗ bèn đi tìm một nơi thích hợp cho cuộc bắn
thử. Không bao lâu ông đã tìm thấy. Đó là một ngọn đồi, thoai thoải
phía dưới là rừng cây ngút ngàn rộng có đến hàng trăm dặm. Tướng
Cao Lỗ thỉnh vua ra ngự lãm. Một tay cầm chiếc nỏ Liên Châu, tay
kia cầm chiếc móng rùa, lưng mang giỏ tên đầy ắp, Cao Lỗ tiến lên
đỉnh đồi.
Nhắm hướng rừng cây, ông buông tên.
35
Một tiếng nổ long trời vang lên, hàng loạt mũi tên xé gió vút đi.
Trước khi mọi người kịp định thần, lại có tiếng rào rào vẳng đến. Thì
ra cả khu rừng cây đang gãy cành, trút lá. Chẳng mấy chốc khu rừng
xanh um trước kia chỉ còn lại các gốc cây chỏng chơ không lá không
cành. Ai nấy bàng hoàng trước sức mạnh kỳ diệu của chiếc nỏ. An
Dương Vương bèn đặt tên cho chiếc nỏ là “Linh Quang Kim Trảo
Thần Nỏ”. Còn dân chúng thì thành kính gọi là “Nỏ Thần”.
Bàn thờ Nỏ Thần
ở Cổ Loa
36
An Dương Vương vô cùng quý Nỏ Thần, đem treo ở chỗ nằm
để được hàng ngày ngắm nghía và cũng để bảo vệ an toàn cho
món vũ khí có một không hai ấy.
Từ đấy, kinh đô của An Dương Vương có thành Cổ Loa bảo vệ,
đất nước Âu Lạc có Nỏ Thần giữ an. Khắp nơi dân chúng sống
đời thịnh trị, hạnh phúc.
37
Các nước láng giềng chung quanh thường kính nể và thường
qua lại giao hiếu cùng trao đổi buôn bán. Riêng nước Tần khổng
lồ ở phương bắc lại có tham vọng bành trướng, nhà vua đã phải
dùng đường lối ngoại giao mềm dẻo để tránh sự đổ máu của dân
chúng. Có câu thơ ca tụng thời ấy như sau:
Nhờ Nỏ ấy giữ an bờ cõi,
Năm mươi năm vui hội thanh bình.
Thờ Tần vua đã nhún mình,
Vẫn còn chưa vẹn mối tình bang giao. (*)
* Thơ của Đãi Sinh Vũ Huy Chân trong Việt Sử Thông Lãm (Sài Gòn, 1973, tr.13).
38
Cho đến nay, hàng mấy ngàn năm đã trôi qua mà dấu tích Cổ
Loa còn để lại nhiều đoạn thành ở huyện Đông Anh, ngoại thành
Hà Nội. Trong lòng đất Cổ Loa, các nhà khảo cổ còn đào được
hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh. Về sau, hàng năm cứ vào mùng
6 tết, dân chúng mở hội Cổ Loa để kỷ niệm ngày vua nhập cung.
Và thành Cổ Loa xứng đáng là niềm tự hào của dân tộc.
Ai về qua huyện Đông Anh,
Ghé thăm phong cảnh Loa thành Thục Vương.
Di tích còn lại của
một đoạn thành Cổ Loa
39
40
LÝ ÔNG TRỌNG
41
42
Vào khoảng cuối đời vua Hùng thứ mười tám, ở làng Chèm
(nay thuộc ngoại thành Hà Nội), có một người trai dị thường tên
là Lý Thân. Thân mình anh ta cao to quá khổ, cao đến hai trượng
sáu thước ta (khoảng hơn 3m). Chân tay anh ta cũng to dài, vạm
vỡ, các cuộc thi vật tay trong hội làng hàng năm anh đều đoạt
giải nhất. Sức mạnh của anh không trai làng nào địch nổi, họ rất
nể trọng và gọi anh là Ông Trọng.
43
Bố mất sớm, Lý Ông Trọng sống cùng mẹ trong ngôi nhà nhỏ
rách nát đầu làng, gần bên sông Cái (*). Một hôm người mẹ ra sông
lấy nước, bị một con thuồng luồng nơi vực sâu bắt mất. Thời ấy
thuồng luồng là giống thủy quái gây nhiều tai vạ cho người dân.
Bởi vậy dân Lạc Việt có tục xăm mình cho giống các loài thủy
quái để mong chúng không làm hại mình.
* Sông Cái tức là sông Hồng bây giờ.
44
Được tin, Ông Trọng quyết tâm trừ diệt con thủy quái để trả
thù cho mẹ và bảo vệ cuộc sống yên ổn của dân làng. Chàng
bèn dùng sức đắp đê chắn ngang khúc sông có thuồng luồng, rồi
tát cạn nước. Đợi khi đáy sông lộ ra, chàng nhảy xuống dùng đôi
tay lực lưỡng, tóm cổ con thuồng luồng lôi thẳng lên bờ.
45
Ngay trên bến sông, chàng xé xác con thuồng luồng làm
lễ tế mẹ và dân làng bị hại. Sau đó, chàng nổi lửa nướng thịt
thuồng luồng rồi một mình ăn cho bằng hết. Tục truyền rằng,
từ đó, cả khúc sông Cái trước làng Chèm vắng bóng loài thủy
quái hung dữ. Dân làng ngày càng khâm phục và yêu quý chàng.
46
Một lần, trong một cuộc đấu vật, Lý Ông Trọng lỡ tay làm chết
người. Thời bấy giờ, những vụ trọng án như giết người đều phải
do nhà vua trực tiếp xét xử. Vua Hùng thấy chàng vừa có sức khỏe
lại có tài trí, không cố ý giết người nên giảm tội cho. Chàng được
sung vào đội thị vệ hầu hạ và bảo vệ nhà vua. Nhờ vậy, chàng có
dịp lập nhiều chiến công, nức tiếng là một người vũ dũng tài trí.
47
Đến thời An Dương Vương, Lý Ông Trọng vẫn được trọng dụng.
Khi nước Âu Lạc lệ thuộc vào nhà Tần phương bắc, tiếng tăm của
Lý Ông Trọng khiến Tần Thủy Hoàng phải hâm mộ. Nhà Tần cho
sứ sang đòi nước ta phải cống nộp Lý Ông Trọng. An Dương Vương
không có cách gì từ chối đành để Lý Ông Trọng sang Tần, giữ tình
hòa hiếu giữa hai nước.
48
 





