Gulliver Du Kí

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thị Thêu
Ngày gửi: 10h:30' 13-05-2024
Dung lượng: 7.7 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Bùi Thị Thêu
Ngày gửi: 10h:30' 13-05-2024
Dung lượng: 7.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
LỜI GIỚI THIỆU
"Gulliver du ký" là cuốn sách được cả thế giới đọc trong mấy thế kỷ qua và đã được dịch ra hầu
hết các thứ tiếng. Đặc biệt, bạn đọc nhỏ tuổi rất yêu thích những câu chuyện phiêu lưu tưởng
tượng kỳ thú, đưa các em đến thế giới của những người tí hon, bé chỉ bằng ngón chân cái,
nhưng có cuộc sống chẳng khác gì những người bình thường, rồi lại được đến đất nước của
những người khổng lồ, một thế giới kỳ diệu nơi những con người đầy lòng nhân ái, ngay thẳng.
Ở đó, con khỉ to bằng con voi và có lần Gulliver phải rút kiếm ra chiến đấu với hai con chuột
định xông vào ăn thịt mình... "Gulliver du ký" là cuốn sách của mọi lứa tuổi. Trẻ em tìm thấy ở
đó những câu chuyện kỳ lạ, có người tốt, kẻ xấu. Người lớn thì rút ra được những bài học về
cách xử thế ở đời. Những nhà tư tưởng thì tìm thấy những lời phê phán chua chát cái xã hội
nhỏ nhen là nước Anh đã đương thời, đúng như tầm vóc tí hon của người nước Lilliput và ca
ngợi tâm hồn trong sáng, cao đẹp của những người khổng lồ xứ Brobdingnag.
"Gulliver du ký" của Jonathan Swift (1667-1745), được in lần đầu năm 1726 và nhanh chóng
được cả thế giới biết đến. Cuốn sách ra đời đã gần ba thế kỷ nhưng đến nay vẫn được nhiều thế
hệ độc giả yêu thích và tìm đọc. "Gulliver du ký" là cuốn sách chiến đấu. Nó chống lại những
những kẻ thống trị là giai cấp phong kiến và tư sản xấu xa, tàn ác, phản kháng chế độ xã hội bất
công, ca ngợi lòng khoan dung, độ lượng và chủ nghĩa nhân đạo. Nhưng tất cả những ước mơ
của tác giả chỉ là những tưởng tượng trong thế giới ảo nên ông dễ đi đến bi quan, chán nản.
"Gulliver du ký" là một tác phẩm châm biếm. Tác giả dùng tiếng cười, nhiều khi chua chát, để
phê phán thói hư tật xấu của triều đình Lilliput. Nhiều lúc tưởng như ông bênh vực, ca ngợi
nước Anh: "Tổ quốc vinh quang", "niềm tự hào của vũ trụ"... nhưng sự thật đó là những lời mỉa
mai, chỉ trích sâu sắc. Cũng có khi, tưởng như ông chê bai người nước Brobdingnag "dốt nát",
"thiển cận", nhưng sự thật lại là những lời ca ngợi lòng nhân ái, trung thực của những người
khổng lồ.
"Gulliver du ký" là một cuốn chuyện "du ký" kể về những cuộc phiêu lưu của Gulliver, có
nhiều cảnh tượng hấp dẫn, kỳ thú, nửa như thật, nửa như tưởng tượng, những câu chuyện dí
dỏm nhưng mang ý nghĩa sâu xa. Những cảnh tả con tàu trong bão tố hay những con vật khổng
lồ, thành phố và cung điện tí hon, chứng tỏ tài năng, óc quan sát tinh tế và trí tưởng tượng
phong phú của tác giả. Chính gì vậy, tất cả mọi người - nhất là trẻ em - sẽ còn đọc mãi "Gulliver
du ký" của Jonathan Swift.
ĐỖ ĐỨC HIỂU
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN - 2008
Dịch từ: bản tiếng Pháp: "Voyages de Gulliver" do André Desmon dịch từ Tiếng Anh - Nhà xuất
bản: "Leclub Francais du livre", 1949
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
PHẦN I: CUỘC DU LỊCH ĐẾN XỨ LILLIPUT
CHƯƠNG 1
Tác giả kể vài ba câu chuyện về bản thân và gia đình - Ông đã ham thích du lịch như thế nào Đắm tàu - Tác giả thoát chết - Ông bơi được vào bờ biển nước Lilliput - Ông bị cầm tù và giải
vào nội địa.
Cha tôi có một trang trại nhỏ tại vùng
Nottingham. Cha tôi có năm con trai, tôi là thứ
ba. Năm mười bốn tuổi, tôi đến Cambridge theo
học trường Emanuel. Ba năm trời, tôi học chăm
chỉ. Chẳng may, số tiền nuôi tôi ăn học tuy chẳng
đáng là bao, nhưng số tiền ấy cũng đã trở thành
một gánh nặng cho gia đình vốn nghèo túng. Thế
là tôi bị gửi đi tập việc tại nhà giải phẫu danh
tiếng của ông James Bates, một nhà giải phẫu nổi
tiếng ở Luân Đôn. Tôi tập việc ở đấy bốn năm.
Thỉnh thoảng, cha tôi gửi cho tôi ít tiền. Tôi dùng
số tiền này để học nghề hàng hải và những môn
toán cần thiết cho người đi biển, bởi vì tôi luôn
luôn nghĩ rằng, một ngày mai đây, đó phải là số
mệnh của tôi. Sau khi từ biệt ông Bates, tôi trở về
nhà. Cha tôi, chú tôi là John cùng vài ba người họ
hàng thân thân nữa gom góp cho tôi món tiền
bốn mươi sterling1 và hứa hằng năm sẽ cung cấp
cho tôi ba mươi sterling để tôi ăn học ở Leyden.
Tôi học ngành thuốc trong thời gian hai năm, bảy
tháng, tôi biết rằng nghề chữa bệnh này rất cần
thiết cho những cuộc du lịch lâu dài.
Ở Leyden về nhà chẳng được bao lâu, tôi được
ông Bates giới thiệu cho làm một chân thầy
thuốc trên tàu Con Nhạn, dưới quyền chỉ huy của
thuyền trưởng Abraham Pannel. Tôi làm việc với
ông ta ba năm ruỡi, đi một vài chuyến sang vùng
biển phương Đông và vài ba nơi khác trên thế
giới. Về đến nhà, tôi quyết định ở lại Luân Đôn.
Ông Bates khuyến khích tôi ở lại, giới thiệu cho
tôi nhiều bệnh nhân của ông. Tôi thuê một ngôi
nhà nhỏ ở xóm Jewry. Nghe lời mọi người khuyên nên lấy vợ, tôi cưới cô Mary Burton, con gái
thứ hai ông Edmund Burton, một người làm nghề khâu mũ vải ở phố Newgate. Tôi được
hưởng của hồi môn trị giá bốn trăm sterling.
Nhưng hai năm sau, ông Bates - thầy học của tôi - qua đời. Tôi vốn ít giao thiệp nên công việc
bắt đầu sút dần, vì lương tâm không cho phép tôi bắt chước dùng những mánh khóe như một
số bạn đồng nghiệp. Sau khi bàn bạc với vợ tôi và mấy người bạn, tôi quyết định lại đi biển. Tôi
nhận chân thầy thuốc trên hai con tàu. Và trong sáu năm trời, tôi đã đi nhiều chuyến sang Nam
Dương và sang Mỹ. Nhờ vậy mà số tiền tôi để dành đã được kha khá. Những lúc rỗi, tôi có đọc
các tác giả cổ kim hay nhất, vốn lúc nào tôi cũng mang theo sách bên mình. Khi lên đất liền, tôi
quan sát phong tục tập quán của người địa phương và học tiếng nói của họ, vì trí nhớ của tôi
rất tốt nên tôi học khá dễ dàng.
Chuyến đi cuối cùng của tôi không may mắn lắm, nên tôi chán nghề đi biển và quyết định ở
nhà với vợ con. Tôi dời nhà khỏi khu Old Jewry, sang khu Fetter Lane, rồi sang khu Wapping,
với niềm hy vọng kiếm được nhiều việc làm với anh em thủy thủ. Nhưng tôi đã tính toán sai.
Sau ba năm cố gắng thu xếp công việc không có kết quả, tôi nhận lời thuyền trưởng William
Prichard, chỉ huy tàu Antelope đi về biển phương Nam. Ngày 4 tháng 5 năm 1699, chúng tôi
dời bến Bristol. Thoạt đầu, chuyến đi rất thuận buồm xuôi gió.
Tôi sẽ làm bạn đọc khó chịu nếu tôi kể tỉ mỉ với các bạn những cuộc phiêu lưu trên mặt biển
phương Nam. Bạn đọc chỉ cần biết rằng, khi chúng tôi đang tiến về phía quần đảo Nam Dương,
thì một cơn bão dữ dội cuốn thuyền chúng tôi về hướng tây bắc miền Van Diemen. Khi định
được phương hướng, chúng tôi thấy mình đang ở vĩ tuyến nam 30 độ 2 phút. Mười hai người
trong đoàn thủy thủ đã chết vì kiệt sức và thiếu ăn, những người còn sống trông rất thảm hại.
Ngày 5 tháng mười một nghĩa là vào đầu mùa hè ở cái phần quả địa cầu này, qua màn sương
mù dày đặc một thủy thủ bỗng thấy một mỏm đá cách tàu có một sải tay. Nhưng gió thổi mạnh
quá, tàu đâm sầm vào tảng đá. Sáu anh em chúng tôi thả được chiếc sà-lúp xuống biển, cố sức
bơi xa con tàu và mỏm đá. Chèo mãi, chèo mãi, chúng tôi đi được ba dặm2. Nhưng kiệt sức vì
những công việc chống chọi trên con tàu lúc trước nên chúng tôi không còn hơi để chèo nữa và
chúng tôi mặc cho sóng cuốn di. Khoảng nửa giờ sau, một cơn gió giật lật úp sà-lúp.
Số phận năm người bạn và những thủy
thủ mắc ở mỏm đá, tôi không biết ra sao.
Nhưng chắc họ chết cả rồi. Một mình tôi
cứ thế bơi theo hướng gió thổi và thủy
triều. Nhiều khi tôi đưa chân quờ quạng
xem đã tới đất chưa, nhưng chẳng thấy
gì. Đúng lúc tôi đã kiệt sức, định bỏ cuộc
chiến đấu, thì chân tôi chạm tới đất, lúc
này bão đã ngớt. Dốc thoai thoải kéo dài
nên tôi phải lần đi gần một dặm mới tới
bờ. Lúc ấy chắc đã tám giờ tối. Tôi tiếp
tục đi gần nửa dặm nữa mà chẳng thấy
dấu vết nhà cửa hay bóng người. Hoặc, vì
mệt quá nên tôi chẳng trông thấy gì. Đã
kiệt sức lại thêm nóng bức, và tôi đã uống
nửa chai rượu mạnh lúc dời bỏ con tàu,
nên lúc này tôi buồn ngủ quá. Tôi nằm
lăn xuống bãi cỏ rất mịn, ngủ một giấc say như chết khoảng chín tiếng đồng hồ, vì lúc thức dậy,
trời đã hửng sáng. Tôi cố ngồi dậy nhưng không sao động đậy được. Đúng thế, lúc ấy tôi nằm
ngửa, tôi thấy hai tay hai chân tôi bị trói chặt xuống đất, cả cái mớ tóc dài và rậm của tôi cũng
bị buộc chặt xuống đất. Cả mình tôi, suốt từ nách đến đùi, đầy những dây rợ mỏng manh chằng
chịt. Tôi chỉ có thể nằm ngửa nhìn trời mà thôi. Mặt trời đã lên cao làm tôi chói cả mắt. Tôi
nghe thấy tiếng rì rầm, nhưng tôi nằm kiểu ấy nên chẳng thấy gì ngoài bầu trời. Một lát sau, tôi
thấy một cái gì động đậy, bò bò trên chân trái tôi, nhẹ nhàng tiến lên đến ngực, rồi đến cằm.
Tôi cố hết sức cúp mắt nhìn xuống thì thấy đó là một người bé tí xíu cao độ 6 inch3, tay cung,
tay tên, lưng đeo một cái ống đựng tên. Cùng lúc ấy, tôi đoán phỏng chừng bốn mươi người
khác, cũng cỡ ấy đang đi theo anh ta.
Kinh ngạc hết sức, tôi gầm lên làm cả toán khiếp hãi bỏ chạy tán loạn. Sau này, người ta kể
cho tôi biết số người tí hon ấy xô nhau nhảy từ sườn tôi xuống đất đã bị thương. Nhưng rồi họ
quay trở lại và một người liều mình đến tận mặt tôi xem cho rõ, rồi mắt nhìn lên trời, hai tay
giơ cao lên, ra vẻ thán phục lắm và kêu lên một tiếng tuy the thé nhưng rõ ràng: Hekinah degul.
Những người khác nhắc lại nhiều lần những tiếng ấy, nhưng tôi chẳng hiểu gì hết. Trong khi ấy,
tôi cứ nằm trong cái thế rất bất tiện, như bạn đọc có thể hình dung được. Sau cùng, tôi lấy hết
sức bình sinh để tự giải phóng, may thay những dây trói và cọc buộc tay trái tôi đứt bung. Tôi
giơ tay lên mặt và biết cách họ đã trói tôi như thế nào. Cùng lúc ấy, tôi lắc đầu mạnh một cái và
thấy đau điếng. Những dây buộc tóc tôi về phía trái chùng lại một chút, thế là tôi có thể ngóc
đầu được vài phân. Nhưng, những chú bé tí hon ấy lại ù té chạy, tôi chẳng bắt được chú nào.
Rồi những tiếng hò vang dậy. Sau đó một người hô to: tolgo phonac. Bỗng tôi thấy hàng trăm
mũi tên cắm phập vào bàn tay trái, như hàng trăm mũi kim. Họ còn bắn một loạt súng lên
không, như thể ta bắn
đại bác vậy. Nhiều mũi
tên bắn trúng người tôi
(mặc dù tôi chẳng cảm
thấy gì), bắn trúng mặt
tôi, tôi vội vàng đưa
bàn tay trái lên che
mặt. Khi cơn mưa tên
chấm dứt, tôi rên lên vì
buồn bực và đau đớn.
Tôi cố giằng cho đứt
dây trói một lần nữa,
tức thì lại một trận mưa
tên vèo vèo, mau hơn
đợt trước. Một số kẻ
còn lấy giáo đâm vào
sườn tôi. Cũng may tôi
mặc cái áo da trâu, nên
không sao cả. Tôi nghĩ
không nên động đậy
nữa là khôn hơn cả và
định cứ nằm ì ra đó đến tận đêm tối, khi đó tôi sẽ dùng tay trái để cởi tất cả dây trói. Còn đối
với dân cư xứ này, tôi tính một mình tôi có thể đương đầu với một đoàn quân lớn, miễn là
người nào cũng bé nhỏ như những người tôi vừa trông thấy. Tôi có ý định như vậy, nhưng số
phận lại quyết định cách khác. Thấy tôi nằm im, họ thôi không bắn nữa. Nghe tiếng ầm ầm, tôi
biết là họ kéo đến ngày một đông hơn. Cách tôi chừng hai fathom 4 về bên tay phải, tôi nghe
thấy tiếng những người thợ đang đóng cái gì. Tôi cố hết sức ngoái đầu lại và nhìn thấy một cái
bục cao có bốn người đứng và có hai hay ba cái thang.
Đứng trên bục, một người có vẻ quyền
cao chức trọng đang đọc một bài diễn
văn dài cho tôi nghe, nhưng tôi chẳng
hiểu được đến một chữ. Nhưng trước
tiên, cần biết rằng trước khi đọc bản hiệu
triệu, nhân vật này đã kêu lên ba lần: lang
ro dehul san (những tiếng này, cũng như
những tiếng tôi đã kể bên trên, sẽ được
nhắc lại và sẽ được giải thích ở bên
dưới). Sau bài diễn văn, chừng năm chục
người đến cắt những sợi dây buộc phía
đầu bên trái tôi, thế là tôi tha hồ ngoảnh
sang bên phải để quan sát dáng điệu của
người vừa đọc diễn văn. Có lẽ anh ta trạc
tuổi trung niên và trông có vẻ bệ vệ hơn
ba anh kia. Một anh là người hầu, bởi vì
tôi thấy anh này nâng vạt áo sau của anh
trước và chỉ nhỉnh hơn ngón tay giữa của tôi một chút. Hai người khác thì kẻ đứng bên phải,
người đứng bên trái để giúp anh ta. Quả anh ta là một nhà hùng biện có tài, tôi có thể nhận
thấy nhiều đoạn đe dọa và nhiều đoạn hứa hẹn, rộng lượng và khoan dung. Tôi đáp lại vài ba
lời bằng một giọng quy phục, tay trái giơ lên và mắt ngước nhìn mặt trời như thể muốn là trời
làm chứng giám. Tôi đói gần chết, bởi vì trước khi dời con tàu, từ lâu tôi không được ăn uống
gì. Thôi thì mặc những phép tắc của lối xã giao tối thiểu, bởi vì dạ dày tôi lúc đó đang gào thét,
tôi nóng lòng nóng ruột đưa ngay mấy ngón tay vào mồm, ra ý đòi ăn. Viên quan hurgo (tiếng
gọi viên quan đại thần, theo như tôi hiểu từ ấy) hiểu ngay. Ông ta xuống đất và ra lệnh cho bắc
nhiều thang bên sườn tôi. Trên một trăm người leo lên thang, tiến về phía miệng tôi, họ vác
những thúng thịt đầy ăm ắp. Những thức ăn đó đã được chuẩn bị và cung cấp theo lệnh của nhà
vua, ngay từ khi vua được tin tôi đến xứ sở của ngài. Tôi nhận ra các loại thịt của một thú vật,
nhưng không phân biệt được đích xác thịt gì. Có thịt vai, có chân giò, lườn, thái từng miếng như
thịt cừu, làm rất khéo nhưng nhỏ hơn cánh chim cắt. Tôi nhai hai ba miếng một lần và chén
một miếng ba khoanh bánh to bằng viên đạn súng hỏa mai. Những người tí hon ra sức xúc rất
nhanh cho tôi, ai nấy đều tỏ vẻ hết sức thán phục và ngạc nhiên trước cái thân hình khổng lồ và
sức ăn ghê gớm của tôi. Sau đó tôi ra hiệu muốn uống nước. Thấy tôi ăn nhiều như thế, những
người tí hon đoán chắc tôi uống không ít. Rất khéo léo và tài tình, họ đưa được lên bàn tay tôi
cái thùng ton-nô to nhất rồi tháo nắp ra. Tôi uống một hơi cạn thùng, cái đó chẳng có gì lạ, bởi
vì nó chỉ bằng một chén nước, vị gần giống như rượu vang Burgundy hảo hạng và ra hiệu còn
muốn uống nữa, nhưng không còn thùng nào. Sau khi thấy tôi lập những chiến công lừng lẫy
như vậy, họ hò reo vui vẻ và vừa nhảy múa trên ngực tôi vừa nhắc lại nhiều lần mấy tiếng lúc
trước: hekinah degul. Họ ra hiệu cho tôi ném hai cái thùng xuống. Họ hét lên mấy tiếng: borach
mevolah để bảo mọi người tránh ra xa. Khi thấy mấy cái thùng tung lên trời, họ đồng thanh reo
lên: hekinah degul. Thú thật là khi họ đi đi lại lại trên người tôi, lắm lúc tôi muốn túm lấy bốn,
năm chục chú, vứt xuống đất. Nhưng nhớ lại sự đau đớn, và chắc đó chưa phải là những đòn
đau nhất họ có thể dành cho tôi, và nhớ lại lời hứa danh dự khi tôi có vẻ quy phục, tôi vội vàng
bỏ cái ý định điên rồ ấy đi. Thêm nữa, bây giờ tôi tự coi như đã bị ràng buộc vào những quy tắc
của một người khách đối với một dân tộc đã đón tiếp tôi một cách khoan dung và trang trọng
như vậy. Và, càng suy nghĩ, tôi càng khâm phục lòng can đảm của những chú bé tí hon đã có
gan trèo lên mình tôi, đi đi lại lại trong khi một tay tôi không bị trói, và họ không hề run sợ khi
trông thấy một sinh vật kỳ dị như tôi. Một lát sau, thấy tôi không đòi ăn nữa, một viên quan đại
thần, nhân danh đức vua, ra trước mắt tôi. Ông ta trèo lên chân phải tôi, cùng mười hai người
tùy tùng tiến lên mặt tôi.
Ông quan đại thần mở ra một giấy ủy
nhiệm có áp triện rồng rồi đặt trước mặt
tôi, ông ta nói một hồi đến mười phút,
giọng không có gì giận dữ nhưng rất kiên
quyết, nhiều lần giơ tay về một phía - sau
này tôi mới hiểu là phía thủ đô, cách
khoảng nửa dặm, nơi hoàng thượng cùng
Hội đồng đã quyết nghị dời tôi về đấy.
Tôi đáp lại vài ba tiếng, nhưng mất công
toi. Tôi liền lấy tay trái làm hiệu tôi muốn
được hoàn toàn tự do, bằng cách áp tay
trái vào cánh tay phải - cố tránh giơ tay
qua đầu viên quan, sợ đụng phải ông ta
và đoàn tùy tùng. Hình như ông ta hiểu
cả, bởi vì ông ta lắc đầu và lấy tay làm
hiệu cho tôi biết rằng tôi sẽ bị khiêng đi
như một người tù. Song, ông ta lại ra hiệu cho tôi biết, tôi sẽ được ăn uống đầy đủ và sẽ được
đối đãi tốt. Thấy vậy, một lần nữa, tôi muốn dứt những dây trói. Nhưng nghĩ đến nhưng mũi
tên cắm tua tủa trên mặt và tay, nay nhiều nốt đã sưng vù và còn nhiều mũi tên vẫn cắm chặt
vào thịt, tôi đành quyết định phải quy phục không điều kiện. Thế là viên Hurgo và đoàn tùy
tùng rút lui với những lễ nghi rất lịch sự. Một lát, tôi nghe thấy tiếng hò reo, mấy tiếng: peplom
selan luôn luôn được nhắc lại. Tôi cảm thấy một đoàn người rất đông đang nới bớt dây trói cho
tôi ở phía sườn bên trái. Thế là tôi có thể quay mình sang bên phải, cứ thế đái một bãi to
tướng, nhẹ hẳn người. Những người xung quanh hết sức ngạc nhiên, họ thấy tôi cử động và
đoán được tôi sẽ làm gì, nên tức khắc giạt ra hai bên để tránh con suối cứ tồ tồ và dữ dội phun
ra từ người tôi. Trước đó, họ xoa lên mặt và tay tôi một thứ dầu thơm mát, làm cho chỉ vài
phút sau những vết thương dịu hẳn đi. Đã dễ chịu như thế, lại thêm một bữa ăn uống no nê,
nhiều chất bổ, nên tôi buồn ngủ díp mắt lại. Tôi đánh một giấc tám tiếng đồng hồ liền - sau này
người ta bảo tôi như vậy. Cái đó chẳng có gì lạ, bởi vì, theo lệnh của nhà vua, thầy thuốc đã pha
thuốc ngủ vào hai thùng rượu.
Hình như vừa thấy tôi nằm ngủ trên bờ biển, người ta báo tin ngay cho đức vua. Hội đồng
họp và quyết nghị tôi sẽ bị trói như đã kể bên trên (tôi bị trói lúc ban đêm, khi tôi ngủ li bì),
thức ăn và đồ uống được đưa đến cho tôi và người ta chuẩn bị một cái xe để chở tôi về thủ đô.
Theo tôi, quyết định cuối cùng này táo bạo và nguy hiểm. Và tôi tin rằng, trong những trường
hợp tương tự, không một ông vua nào ở châu Âu dám làm như thế cả. Song, theo tôi nghĩ, đó là
một hành động khôn ngoan và độ lượng. Bởi vì, giả dụ những người tí hon này định giết tôi
bằng cung tên và giáo mác trong lúc tôi ngủ, tôi có thể bị đau mà thức dậy, lúc ấy, tôi sẽ phát
cáu lên, và sức khỏe có thể tăng gấp bội, đủ để dứt tung dây trói. Thế là, họ đâu có đủ sức chống
lại tôi, họ có thể bị giết sạch.
Những người tí hon là những nhà toán học tuyệt vời và có một kỹ thuật hoàn hảo, bởi vì đức
vua của họ vốn nổi tiếng là ưu đãi các nhà khoa học, thường khuyến khích nghiên cứu các công
trình kỹ thuật. Vua có nhiều máy đặt trên bánh xe để chuyên chở gỗ và các đồ vật nặng khác.
Nhiều khi, vua cho đóng tàu chiến lớn ở ngay trong rừng (có những chiếc tàu dài tới chín mươi
foot5) và cho vận chuyển đến tận biển, cách đó có khi tới một trăm rưỡi hay hai trăm fathom.
Năm trăm thợ mộc và kỹ sư tức khắc được huy động để làm ngay một cái máy đồ sộ nhất. Đó
là một cái khung bằng gỗ, cao hơn mặt đất ba inch dài chừng bảy foot, rộng bốn foot, đặt trên
hai mươi hai bánh xe. Những tiếng hò reo tôi nghe thấy lúc nãy là do người ta thấy cái máy ấy
được chuyển tới. Cái máy được hoàn thành không quá bốn tiếng đồng hồ. Người ta đặt nó song
song với chiều tôi nằm. Điều khó nhất là nhấc được tôi và đặt lên xe. Hai mươi hai cái cọc cao
một foot đã được nối bằng những cái móc, móc vào nhưng dây băng dài quấn quanh cổ, tay,
chân và mình tôi. Chín trăm người được lựa chọn cẩn thận, có trách nhiệm kéo những dây
thừng buộc vào cột có bánh xe. Thế là chưa đến ba tiếng đồng hồ, người ta nhấc được tôi lên và
đặt trên xe, rồi trói chặt tôi lại. Tất cả những câu chuyện này, về sau tôi được nghe kể lại, bởi vì
lúc ấy tôi ngủ li bì. Một nghìn rưỡi con ngựa khỏe nhất của vua - mỗi con cao chừng bốn inch
rưỡi - kéo tôi về thủ đô, ở cách đấy một nửa dặm, như tôi đã nói.
Chúng tôi lên đường được chừng bốn giờ thì bất thần một việc làm ngu ngốc đánh thức tôi
dậy. Lúc ấy, chiếc xe dừng lại một lát để sửa một bộ phận bị trục trặc, ba hay bốn cậu thanh
niên tò mò muốn xem tôi lúc ngủ. Các cậu leo lên xe, rón rén tiến đến mặt tôi. Một cậu - một sĩ
quan cận vệ - lấy ngọn giáo thọc khá sâu vào lỗ mũi bên trái của tôi. Tôi thấy buồn buồn như có
cọng rơm cù lỗ mũi, liền hắt hơi một cái. Thế là các cậu nhanh nhẹn lủi mất. Ba tuần lễ sau tôi
mới biết tôi bị đánh thức dậy như thế nào. Suốt ngày hôm ấy, chúng tôi đi như vậy. Đêm đến,
năm trăm người canh gác tôi, cả bên phải và bên trái, kẻ cầm đuốc, người cầm tên và nỏ, tư thế
sẵn sàng nhả tên nếu tôi động đậy. Khi mặt trời mọc, chúng tôi lại đi, đến giữa trưa, thì còn
cách cổng thành chừng một trăm fathom. Hoàng thượng và cả triều đình ra đón chúng tôi
nhưng các vị tướng cao cấp nhất định không để cho hoàng thượng leo lên mình tôi, sợ nguy
hiểm đến tính mệnh.
Nơi cỗ xe đỗ có một ngôi đền cổ, là nơi rộng nhất vương quốc. Cách đây mấy năm, ở nơi này
xảy ra một vụ giết người gớm ghiếc, nên theo tôn giáo của xứ sở nơi đó bị coi là một nơi uế
tạp. Bởi vậy, nó chỉ còn dùng vào việc bình thường, mọi vật trang hoàng, bàn ghế đều bị mang
đi hết. Đấy, tôi phải ở nơi như thế. Cái cổng lớn quay về phương bắc, cao bốn foot, rộng gần hai
foot tôi có thể bò toài vào một cách dễ dàng. Hai bên cổng có cửa sổ cao hơn mặt đất gần sáu
inch. Những thợ rèn của nhà vua đã luồn qua cửa sổ bên trái chín mươi mốt cái xích to bằng
dây đeo đồng hồ của phụ nữ châu Âu, người ta quấn dây xích vào cổ chân tôi rồi khóa lại bằng
ba mươi sáu cái khóa. Bên kia đường cái, trước mặt ngôi đền, cách xa chừng hai mười foot, có
một cái tháp cao ít nhất là năm foot. Vua thường leo lên đấy cùng với các quan đại thần để nhìn
tôi - sau này người ta kể lại cho tôi biết, bởi vì tôi không thể trông thấy họ. Người ta ước tính
có đến trên mười vạn dân thủ đô ra ngoại thành để xem tôi. Và mặc dù lính gác ngăn cản, tôi
tính có đến một vạn người dùng thang leo lên mình tôi. Về sau, một sắc lệnh cấm mọi người
làm như vậy, ai vi phạm sẽ bị xử tử. Khi những người thợ chắc chắn rằng tôi không thể dứt
xiềng xích ra được, người ta mới cởi mọi dây trói. Thế là tôi ngồi dậy, lòng buồn tê tai. Thấy tôi
ngồi dậy, mọi người tỏ vẻ sửng sốt
và ngạc nhiên không sao tả được.
Xích quấn chân trái tôi dài khoảng
sáu foot, khiến tôi không những đi
lại được một nửa vòng tròn, mà còn
có thể bò toài được vào ngôi đền và
nằm dài trong đó.
CHƯƠNG 2
Vua nước Lilliput và đoàn tùy tùng quý tộc đến thăm tác giả lúc bị giam cầm - Miêu tả đức
vua, con người và y phục - Những nhà bác học được chỉ định để dạy tiếng Lilliput cho tác giả Vì tính tình hiền hậu, tác giả được ưu đãi người ta khám xét túi áo, kiếm và súng lục bị tịch thu.
Đứng dậy, tôi nhìn chung quanh, phải công nhận rằng tôi chưa hề thấy cảnh tượng nào xinh
xắn nhường ấy. Vùng chung quanh giống như một khu vườn, đồng ruộng mỗi bề bốn mươi
foot, có rào bao vây, trông như những luống hoa. Xen vào đồng ruộng là những khu rừng thưa
rộng chừng nửa cây sào, cây to nhất hình như cao không quá bảy foot. Bên trái là thành phố,
giống như một bức tranh trang trí ở rạp hát.
Đã hàng mấy giờ, tôi ra sức chống chọi với nhu cầu của tự nhiên. Chẳng có gì lạ, bởi vì đã gần
hai ngày trời, tôi chưa được giải phóng cái bụng. Nửa vì cần thiết, nửa vì xấu hổ, tôi không biết
làm thế nào. Tốt hơn hết là bò toài vào trong nhà và ở lỳ trong ấy. Tôi bò cho đến hết dây xích
và phóng cái chất ô uế ở trong bụng ra ngoài. Đây là lần duy nhất trong đời. tôi làm một việc
bẩn thỉu như vậy. Nhưng rồi chẳng thể không nghĩ rằng, bạn đọc yêu mến sẽ tha thứ cho tôi,
sau khi suy nghĩ nghiêm chỉnh và vô tư về hoàn cảnh của tôi và cái bi đát trong trường hợp
này. Từ hôm ấy, tôi tập thói quen làm cái nhu cầu tự nhiên ấy vào lúc mới dậy, ở giữa trời, sau
khi đi hết sợi xích. Mỗi sáng người ta xúc cái của quý ấy vào mấy cái xe đóng kín. Hai người tí
hon được chỉ định làm việc này. Tôi sẽ không miêu tả dài dòng việc này, thoạt đầu có vẻ chẳng
quan trọng vì: nếu tôi không coi là cần thiết phải làm cho mọi người có một ý niệm chính xác
về đức tính sạch sẽ của tôi. Bởi vậy, người ta kể rằng có những kẻ muốn ám hại tôi, thích thú
làm cho mọi người nghi ngờ cái đức tính này của tôi.
Việc xong xuôi, tôi ra khỏi nhà hít thở
không khí mát mẻ. Vua đã từ trên tháp
bước xuống, ngài cưỡi ngựa, tiến về phía
tôi. Ngài suýt phải trả một giá đắt. Mặc
dù con ngựa rất tinh khôn, nhưng nó
chưa hề trông thấy con quái vật như tôi.
Trước cái núi biết động đậy, nó lồng lên.
Đức vua, mặc dù cưỡi ngựa tài giỏi, chỉ có
thể ngồi trên yên cho đến khi đoàn người
hầu chạy đến ghì ngựa lại. Khi ngài đã
xuống ngựa, ngài ngắm nhìn tôi, vẻ rất
khâm phục, nhưng vẫn đứng ngoài tầm
với của tôi. Ngài ra lệnh cho những tay
đầu bếp và những người hầu mang cỗ
bàn, rượu thịt ra cho tôi. Tức khắc, mấy xe được- chở đến. Tôi nhanh nhảu mang mọi thứ
xuống. Khoảng hai chục xe chất đầy thịt và một chục xe chở nước uống. Mỗi xe thịt tôi ăn hai,
ba miếng là hết, tôi đổ mười cái chum sứ chứa trong một xe vào miệng và tu một hơi. Những
xe khác, tôi cũng làm như vậy. Hoàng hậu và các hoàng tử, công chúa, cùng đoàn nữ tì, dừng lại
khá xa trên kiệu.
Khi xảy ra cái việc không hay cho con ngựa của vua, họ mới bước cả xuống đất và đến bên
vua mà tôi xin miêu tả bây giờ. Vua cao hơn tất cả triều thần một cái móng tay của tôi, như thế
cũng đủ làm cho mọi người phải khiếp sợ. Nét mặt cương nghị và cường tráng, cái miệng kiểu
dân nước Áo, mũi khoằm, nước da ngăm ngăm, dáng đứng thẳng, thân mình, tay chân cân đối,
cử chỉ duyên dáng và tư thế oai nghiêm. Ngài hai mươi tám tuổi, đã qua tuổi hoa niên và đã trị
vì bảy năm đầy hạnh phúc, bởi vì ngài chỉ có chiến thắng. Để nhìn ngài được rõ hơn, tôi nằm
nghiêng, mặt tôi ngang với mặt ngài. Ngài đứng cách tôi chỉ một fathom rưỡi. Song, từ ngày ấy,
đã biết bao lần tôi cầm ngài trong tay, nên tôi miêu tả ngài chả thể sai lầm được. Y phục của
ngài rất giản dị, cắt kiểu nửa châu Âu, nửa châu Á. Ngài đội một cái mũ bằng vàng nạm ngọc,
cắm một cái lông chim. Ngài cầm trong tay một thanh kiếm, sẵn sàng tự vệ nếu tôi bẻ gẫy xích.
Kiếm dài tài ba inch, đốc kiếm và bao kiếm bằng vàng nạm kim cương. Giọng nói thanh, rất
trong và rõ ràng, ngay khi tôi đứng tôi cũng nghe rõ từng tiếng một. Các công chúa cùng các
cung tần mỹ nữ và triều thần ăn mặc lộng lẫy, nên nơi họ đứng làm ta hình dung như một cái
váy thêu hoa vàng và bạc, trải xuống đất. Đức vua luôn miệng nói chuyện với tôi và tôi đáp lại,
nhưng chúng tôi không hiểu nhau đến một tiếng. Một số nhà tu hành và luật gia (tôi đoán vậy,
theo y phục của họ) dự vào câu chuyện của chúng tôi. Họ được lệnh nói chuyện với tôi, tôi đáp
lại bằng tất cả mọi thứ tiếng mà tôi biết loáng thoáng, tiếng Đức bình dân, tiếng Đức bác học,
tiếng Latin, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng ý, tiếng pha tạp Franca6 nhưng đều vô hiệu.
Khoảng hai giờ sau, các vị rút lui. Tôi được một đội cận vệ canh giữ không cho đám người đông
đảo hỗn xược và độc ác cứ định đổ ào vào tôi. Có kẻ táo bạo nhằm bắn tôi mấy mũi tên lúc tôi
ngồi ở bậc cửa, có mũi suýt trúng mắt trái. Viên sĩ quan chỉ huy tức khắc cho bắt sáu kẻ cầm
đầu, và nghĩ rằng cách trừng phạt tốt nhất là trói họ lại, nộp cho tôi. Những người lính lấy ngọn
giáo đẩy họ vào đến tầm với của tôi. Tôi túm lấy cả bọn, nhét năm chú vào túi áo. Còn chú thứ
sáu, tôi làm ra vẻ muốn nhai sống. Chú ta thét lên khủng khiếp. Viên sĩ quan chỉ huy và các sĩ
quan khác rất lo lắng nhất là khi thấy tôi rút con dao ở túi ra. Nhưng họ hết sợ hãi ngay khi
thấy tôi nhẹ nhàng cắt dây trói và khẽ đặt chú ta xuống đất. Chú ta chạy bán sống bán chết. Tôi
móc ở túi ra từng chú một và làm y hệt như vậy. Tôi nhận thấy vẻ xúc động mạnh mẽ trên nét
mặt những người lính và dân chúng trước lòng rộng lượng của tôi. Câu chuyện này đến tai vua
cùng triều đình, và có lợi cho cuộc đời tôi sau này.
Tối đến, tôi buồn bã trườn vào căn nhà
và nằm dài trên đất. Cứ như vậy độ mười
lăm ngày. Trong khi đó, vua hạ lệnh đóng
cho tôi một cái giường. Sáu trăm cái nệm
giường bình thường được mang đến và
chất trong nhà. Một trăm năm mươi cái
khâu liền với nhau đủ làm nệm cho tôi.
Người ta chất bốn tầng nệm như thế, gọi
là tạm đủ để tôi khỏi phải nằm trên nền
đá cứng. Họ còn tính toán, làm cho tôi
khăn trải giường, chăn đắp, chăn phủ
chân, khá dễ chịu cho những kẻ như tôi,
từ lâu nay vẫn phải gối đất nằm sương.
Cái tin tôi đến xứ sở này đã lan tràn
vương quốc. Những người giàu có, nhàn
rỗi hay tò mò đến xem tôi đông vô kể.
Làng mạc khắp xứ vắng tanh vắng ngắt.
Nếu đức vua không ngăn chặn trước bằng
những pháp lệnh cần thiết thì việc đồng
áng và cuộc sống hằng ngày sẽ bị thất
thiệt nhiều. Những ai đã được thấy tôi
phải trở về nhà ngay và không được đến
gần tôi quá hai mươi lăm fathom nếu
không có giấy phép đặc biệt. Vì vậy, các vị
tổng trưởng tha hồ kiếm chác.
Trong khi đó, vua mở nhiều hội nghị
thảo luận cách đối xử với tôi. Sau này, tôi
được một người bạn chí thiết - một viên
quan quý tộc biết mọi bí mật - cho biết
triều đình rất lúng túng. Một mặt, họ sợ tôi có thể bẻ gẫy xiềng xích, mặt khác, họ sợ việc nuôi
tôi tốn kém quá, có thể gây nên nạn đói trong nước. Có lúc họ thiên về ý định để mặc cho tôi
chết đói, hoặc ít nhất cũng bắn nhưng mũi tên tẩm thuốc độc vào mặt, vào tay tôi cho tôi chết.
Nhưng như vậy cái xác khổng lồ của tôi thối rữa ra, có thể gây nên nạn dịch trong thành phố,
rồi lan ra toàn quốc. Giữa lúc bàn cãi ấy, mấy viên sĩ quan đến trình diện ở cái cửa lớn của
phòng hội nghị, hai người được đưa vào phòng, kể lại đầu đuôi sự việc đã xảy ra với sáu kẻ dại
dột như tôi trình bày bên trên. Báo cáo này làm đức vua và tất cả hội nghị xúc động, vì vậy vua
ban lệnh ngay tức khắc: những người ở năm trăm fathom chung quanh thành phố có nhiệm vụ
cung cấp mỗi sáng sáu con bò, bốn mươi con cừu và các thứ thịt khác, với một tỷ lệ tương ứng
bánh mì, rượu vang và đồ uống khác. Vua sẽ phát phiếu ngân khố để trả tiền số lương thực,
thực phẩm ấy. Vua sống về lợi tức đất đai riêng của mình, chỉ khi có những sự việc lớn mới thu
thuế của thần dân. Người dân phải đóng góp và phụng sự nhà vua những khi có chiến tranh.
Riêng tôi được sáu trăm người hầu hạ, những người này được hưởng lương bổng. Hai bên cửa
nhà tôi, người ta căng những lều vải cho họ ở, rất thuận tiện. Ba trăm thợ may được lệnh may
cho tôi một bộ quần áo kiểu xứ sở, và sáu nhà bác học uyên thâm bậc nhất sẽ dạy tôi học tiếng
Lilliput. Sau cùng, ngựa của vua và của cả hoàng tộc thường được dắt đến gần tôi để chúng
trông cho quen mắt. Tất cả các lệnh được nghiêm chỉnh chấp hành. Chỉ ba tuần lễ, tôi đã tiến
bộ nhiều trong việc học tiếng địa phương. Thời gian đó, đức vua hạ cố đến thăm tôi luôn và
ngài rất vui thích giúp đỡ các giáo sư của tôi. Chúng tôi bắt đầu trao đổi với nhau được vài ba
câu chuyện. Những tiếng tôi học đầu tiên là để: "Xin hoàng thượng cho tôi được tự do". Hằng
ngày , tôi quỳ xuống nhắc lại lời van xin ấy. Vua đáp lại rằng - tôi cố gắng hết sức để hiểu được
như vậy - "Đó là vấn đề thời gian, và không thể giải quyết nếu không có ý kiến của Hội đồng và
trước hết tôi phải "lumos Kelmin pesso desmar lon Emposo", tức là phải tuyên thệ gìn giữ hòa
bình với vua và xứ sở của Ngài. Trong khi chờ đợi, tôi được đối xử rất tốt. Ngài khuyên tôi nên
lấy lòng kiên trì và đức hạnh mà chinh phục lòng yêu mến của Ngài và của dân chúng. Ngài tỏ ý
muốn tôi chớ phật lòng khi có lệnh cho những viên chức có thẩm quyền...
"Gulliver du ký" là cuốn sách được cả thế giới đọc trong mấy thế kỷ qua và đã được dịch ra hầu
hết các thứ tiếng. Đặc biệt, bạn đọc nhỏ tuổi rất yêu thích những câu chuyện phiêu lưu tưởng
tượng kỳ thú, đưa các em đến thế giới của những người tí hon, bé chỉ bằng ngón chân cái,
nhưng có cuộc sống chẳng khác gì những người bình thường, rồi lại được đến đất nước của
những người khổng lồ, một thế giới kỳ diệu nơi những con người đầy lòng nhân ái, ngay thẳng.
Ở đó, con khỉ to bằng con voi và có lần Gulliver phải rút kiếm ra chiến đấu với hai con chuột
định xông vào ăn thịt mình... "Gulliver du ký" là cuốn sách của mọi lứa tuổi. Trẻ em tìm thấy ở
đó những câu chuyện kỳ lạ, có người tốt, kẻ xấu. Người lớn thì rút ra được những bài học về
cách xử thế ở đời. Những nhà tư tưởng thì tìm thấy những lời phê phán chua chát cái xã hội
nhỏ nhen là nước Anh đã đương thời, đúng như tầm vóc tí hon của người nước Lilliput và ca
ngợi tâm hồn trong sáng, cao đẹp của những người khổng lồ xứ Brobdingnag.
"Gulliver du ký" của Jonathan Swift (1667-1745), được in lần đầu năm 1726 và nhanh chóng
được cả thế giới biết đến. Cuốn sách ra đời đã gần ba thế kỷ nhưng đến nay vẫn được nhiều thế
hệ độc giả yêu thích và tìm đọc. "Gulliver du ký" là cuốn sách chiến đấu. Nó chống lại những
những kẻ thống trị là giai cấp phong kiến và tư sản xấu xa, tàn ác, phản kháng chế độ xã hội bất
công, ca ngợi lòng khoan dung, độ lượng và chủ nghĩa nhân đạo. Nhưng tất cả những ước mơ
của tác giả chỉ là những tưởng tượng trong thế giới ảo nên ông dễ đi đến bi quan, chán nản.
"Gulliver du ký" là một tác phẩm châm biếm. Tác giả dùng tiếng cười, nhiều khi chua chát, để
phê phán thói hư tật xấu của triều đình Lilliput. Nhiều lúc tưởng như ông bênh vực, ca ngợi
nước Anh: "Tổ quốc vinh quang", "niềm tự hào của vũ trụ"... nhưng sự thật đó là những lời mỉa
mai, chỉ trích sâu sắc. Cũng có khi, tưởng như ông chê bai người nước Brobdingnag "dốt nát",
"thiển cận", nhưng sự thật lại là những lời ca ngợi lòng nhân ái, trung thực của những người
khổng lồ.
"Gulliver du ký" là một cuốn chuyện "du ký" kể về những cuộc phiêu lưu của Gulliver, có
nhiều cảnh tượng hấp dẫn, kỳ thú, nửa như thật, nửa như tưởng tượng, những câu chuyện dí
dỏm nhưng mang ý nghĩa sâu xa. Những cảnh tả con tàu trong bão tố hay những con vật khổng
lồ, thành phố và cung điện tí hon, chứng tỏ tài năng, óc quan sát tinh tế và trí tưởng tượng
phong phú của tác giả. Chính gì vậy, tất cả mọi người - nhất là trẻ em - sẽ còn đọc mãi "Gulliver
du ký" của Jonathan Swift.
ĐỖ ĐỨC HIỂU
NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN - 2008
Dịch từ: bản tiếng Pháp: "Voyages de Gulliver" do André Desmon dịch từ Tiếng Anh - Nhà xuất
bản: "Leclub Francais du livre", 1949
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
PHẦN I: CUỘC DU LỊCH ĐẾN XỨ LILLIPUT
CHƯƠNG 1
Tác giả kể vài ba câu chuyện về bản thân và gia đình - Ông đã ham thích du lịch như thế nào Đắm tàu - Tác giả thoát chết - Ông bơi được vào bờ biển nước Lilliput - Ông bị cầm tù và giải
vào nội địa.
Cha tôi có một trang trại nhỏ tại vùng
Nottingham. Cha tôi có năm con trai, tôi là thứ
ba. Năm mười bốn tuổi, tôi đến Cambridge theo
học trường Emanuel. Ba năm trời, tôi học chăm
chỉ. Chẳng may, số tiền nuôi tôi ăn học tuy chẳng
đáng là bao, nhưng số tiền ấy cũng đã trở thành
một gánh nặng cho gia đình vốn nghèo túng. Thế
là tôi bị gửi đi tập việc tại nhà giải phẫu danh
tiếng của ông James Bates, một nhà giải phẫu nổi
tiếng ở Luân Đôn. Tôi tập việc ở đấy bốn năm.
Thỉnh thoảng, cha tôi gửi cho tôi ít tiền. Tôi dùng
số tiền này để học nghề hàng hải và những môn
toán cần thiết cho người đi biển, bởi vì tôi luôn
luôn nghĩ rằng, một ngày mai đây, đó phải là số
mệnh của tôi. Sau khi từ biệt ông Bates, tôi trở về
nhà. Cha tôi, chú tôi là John cùng vài ba người họ
hàng thân thân nữa gom góp cho tôi món tiền
bốn mươi sterling1 và hứa hằng năm sẽ cung cấp
cho tôi ba mươi sterling để tôi ăn học ở Leyden.
Tôi học ngành thuốc trong thời gian hai năm, bảy
tháng, tôi biết rằng nghề chữa bệnh này rất cần
thiết cho những cuộc du lịch lâu dài.
Ở Leyden về nhà chẳng được bao lâu, tôi được
ông Bates giới thiệu cho làm một chân thầy
thuốc trên tàu Con Nhạn, dưới quyền chỉ huy của
thuyền trưởng Abraham Pannel. Tôi làm việc với
ông ta ba năm ruỡi, đi một vài chuyến sang vùng
biển phương Đông và vài ba nơi khác trên thế
giới. Về đến nhà, tôi quyết định ở lại Luân Đôn.
Ông Bates khuyến khích tôi ở lại, giới thiệu cho
tôi nhiều bệnh nhân của ông. Tôi thuê một ngôi
nhà nhỏ ở xóm Jewry. Nghe lời mọi người khuyên nên lấy vợ, tôi cưới cô Mary Burton, con gái
thứ hai ông Edmund Burton, một người làm nghề khâu mũ vải ở phố Newgate. Tôi được
hưởng của hồi môn trị giá bốn trăm sterling.
Nhưng hai năm sau, ông Bates - thầy học của tôi - qua đời. Tôi vốn ít giao thiệp nên công việc
bắt đầu sút dần, vì lương tâm không cho phép tôi bắt chước dùng những mánh khóe như một
số bạn đồng nghiệp. Sau khi bàn bạc với vợ tôi và mấy người bạn, tôi quyết định lại đi biển. Tôi
nhận chân thầy thuốc trên hai con tàu. Và trong sáu năm trời, tôi đã đi nhiều chuyến sang Nam
Dương và sang Mỹ. Nhờ vậy mà số tiền tôi để dành đã được kha khá. Những lúc rỗi, tôi có đọc
các tác giả cổ kim hay nhất, vốn lúc nào tôi cũng mang theo sách bên mình. Khi lên đất liền, tôi
quan sát phong tục tập quán của người địa phương và học tiếng nói của họ, vì trí nhớ của tôi
rất tốt nên tôi học khá dễ dàng.
Chuyến đi cuối cùng của tôi không may mắn lắm, nên tôi chán nghề đi biển và quyết định ở
nhà với vợ con. Tôi dời nhà khỏi khu Old Jewry, sang khu Fetter Lane, rồi sang khu Wapping,
với niềm hy vọng kiếm được nhiều việc làm với anh em thủy thủ. Nhưng tôi đã tính toán sai.
Sau ba năm cố gắng thu xếp công việc không có kết quả, tôi nhận lời thuyền trưởng William
Prichard, chỉ huy tàu Antelope đi về biển phương Nam. Ngày 4 tháng 5 năm 1699, chúng tôi
dời bến Bristol. Thoạt đầu, chuyến đi rất thuận buồm xuôi gió.
Tôi sẽ làm bạn đọc khó chịu nếu tôi kể tỉ mỉ với các bạn những cuộc phiêu lưu trên mặt biển
phương Nam. Bạn đọc chỉ cần biết rằng, khi chúng tôi đang tiến về phía quần đảo Nam Dương,
thì một cơn bão dữ dội cuốn thuyền chúng tôi về hướng tây bắc miền Van Diemen. Khi định
được phương hướng, chúng tôi thấy mình đang ở vĩ tuyến nam 30 độ 2 phút. Mười hai người
trong đoàn thủy thủ đã chết vì kiệt sức và thiếu ăn, những người còn sống trông rất thảm hại.
Ngày 5 tháng mười một nghĩa là vào đầu mùa hè ở cái phần quả địa cầu này, qua màn sương
mù dày đặc một thủy thủ bỗng thấy một mỏm đá cách tàu có một sải tay. Nhưng gió thổi mạnh
quá, tàu đâm sầm vào tảng đá. Sáu anh em chúng tôi thả được chiếc sà-lúp xuống biển, cố sức
bơi xa con tàu và mỏm đá. Chèo mãi, chèo mãi, chúng tôi đi được ba dặm2. Nhưng kiệt sức vì
những công việc chống chọi trên con tàu lúc trước nên chúng tôi không còn hơi để chèo nữa và
chúng tôi mặc cho sóng cuốn di. Khoảng nửa giờ sau, một cơn gió giật lật úp sà-lúp.
Số phận năm người bạn và những thủy
thủ mắc ở mỏm đá, tôi không biết ra sao.
Nhưng chắc họ chết cả rồi. Một mình tôi
cứ thế bơi theo hướng gió thổi và thủy
triều. Nhiều khi tôi đưa chân quờ quạng
xem đã tới đất chưa, nhưng chẳng thấy
gì. Đúng lúc tôi đã kiệt sức, định bỏ cuộc
chiến đấu, thì chân tôi chạm tới đất, lúc
này bão đã ngớt. Dốc thoai thoải kéo dài
nên tôi phải lần đi gần một dặm mới tới
bờ. Lúc ấy chắc đã tám giờ tối. Tôi tiếp
tục đi gần nửa dặm nữa mà chẳng thấy
dấu vết nhà cửa hay bóng người. Hoặc, vì
mệt quá nên tôi chẳng trông thấy gì. Đã
kiệt sức lại thêm nóng bức, và tôi đã uống
nửa chai rượu mạnh lúc dời bỏ con tàu,
nên lúc này tôi buồn ngủ quá. Tôi nằm
lăn xuống bãi cỏ rất mịn, ngủ một giấc say như chết khoảng chín tiếng đồng hồ, vì lúc thức dậy,
trời đã hửng sáng. Tôi cố ngồi dậy nhưng không sao động đậy được. Đúng thế, lúc ấy tôi nằm
ngửa, tôi thấy hai tay hai chân tôi bị trói chặt xuống đất, cả cái mớ tóc dài và rậm của tôi cũng
bị buộc chặt xuống đất. Cả mình tôi, suốt từ nách đến đùi, đầy những dây rợ mỏng manh chằng
chịt. Tôi chỉ có thể nằm ngửa nhìn trời mà thôi. Mặt trời đã lên cao làm tôi chói cả mắt. Tôi
nghe thấy tiếng rì rầm, nhưng tôi nằm kiểu ấy nên chẳng thấy gì ngoài bầu trời. Một lát sau, tôi
thấy một cái gì động đậy, bò bò trên chân trái tôi, nhẹ nhàng tiến lên đến ngực, rồi đến cằm.
Tôi cố hết sức cúp mắt nhìn xuống thì thấy đó là một người bé tí xíu cao độ 6 inch3, tay cung,
tay tên, lưng đeo một cái ống đựng tên. Cùng lúc ấy, tôi đoán phỏng chừng bốn mươi người
khác, cũng cỡ ấy đang đi theo anh ta.
Kinh ngạc hết sức, tôi gầm lên làm cả toán khiếp hãi bỏ chạy tán loạn. Sau này, người ta kể
cho tôi biết số người tí hon ấy xô nhau nhảy từ sườn tôi xuống đất đã bị thương. Nhưng rồi họ
quay trở lại và một người liều mình đến tận mặt tôi xem cho rõ, rồi mắt nhìn lên trời, hai tay
giơ cao lên, ra vẻ thán phục lắm và kêu lên một tiếng tuy the thé nhưng rõ ràng: Hekinah degul.
Những người khác nhắc lại nhiều lần những tiếng ấy, nhưng tôi chẳng hiểu gì hết. Trong khi ấy,
tôi cứ nằm trong cái thế rất bất tiện, như bạn đọc có thể hình dung được. Sau cùng, tôi lấy hết
sức bình sinh để tự giải phóng, may thay những dây trói và cọc buộc tay trái tôi đứt bung. Tôi
giơ tay lên mặt và biết cách họ đã trói tôi như thế nào. Cùng lúc ấy, tôi lắc đầu mạnh một cái và
thấy đau điếng. Những dây buộc tóc tôi về phía trái chùng lại một chút, thế là tôi có thể ngóc
đầu được vài phân. Nhưng, những chú bé tí hon ấy lại ù té chạy, tôi chẳng bắt được chú nào.
Rồi những tiếng hò vang dậy. Sau đó một người hô to: tolgo phonac. Bỗng tôi thấy hàng trăm
mũi tên cắm phập vào bàn tay trái, như hàng trăm mũi kim. Họ còn bắn một loạt súng lên
không, như thể ta bắn
đại bác vậy. Nhiều mũi
tên bắn trúng người tôi
(mặc dù tôi chẳng cảm
thấy gì), bắn trúng mặt
tôi, tôi vội vàng đưa
bàn tay trái lên che
mặt. Khi cơn mưa tên
chấm dứt, tôi rên lên vì
buồn bực và đau đớn.
Tôi cố giằng cho đứt
dây trói một lần nữa,
tức thì lại một trận mưa
tên vèo vèo, mau hơn
đợt trước. Một số kẻ
còn lấy giáo đâm vào
sườn tôi. Cũng may tôi
mặc cái áo da trâu, nên
không sao cả. Tôi nghĩ
không nên động đậy
nữa là khôn hơn cả và
định cứ nằm ì ra đó đến tận đêm tối, khi đó tôi sẽ dùng tay trái để cởi tất cả dây trói. Còn đối
với dân cư xứ này, tôi tính một mình tôi có thể đương đầu với một đoàn quân lớn, miễn là
người nào cũng bé nhỏ như những người tôi vừa trông thấy. Tôi có ý định như vậy, nhưng số
phận lại quyết định cách khác. Thấy tôi nằm im, họ thôi không bắn nữa. Nghe tiếng ầm ầm, tôi
biết là họ kéo đến ngày một đông hơn. Cách tôi chừng hai fathom 4 về bên tay phải, tôi nghe
thấy tiếng những người thợ đang đóng cái gì. Tôi cố hết sức ngoái đầu lại và nhìn thấy một cái
bục cao có bốn người đứng và có hai hay ba cái thang.
Đứng trên bục, một người có vẻ quyền
cao chức trọng đang đọc một bài diễn
văn dài cho tôi nghe, nhưng tôi chẳng
hiểu được đến một chữ. Nhưng trước
tiên, cần biết rằng trước khi đọc bản hiệu
triệu, nhân vật này đã kêu lên ba lần: lang
ro dehul san (những tiếng này, cũng như
những tiếng tôi đã kể bên trên, sẽ được
nhắc lại và sẽ được giải thích ở bên
dưới). Sau bài diễn văn, chừng năm chục
người đến cắt những sợi dây buộc phía
đầu bên trái tôi, thế là tôi tha hồ ngoảnh
sang bên phải để quan sát dáng điệu của
người vừa đọc diễn văn. Có lẽ anh ta trạc
tuổi trung niên và trông có vẻ bệ vệ hơn
ba anh kia. Một anh là người hầu, bởi vì
tôi thấy anh này nâng vạt áo sau của anh
trước và chỉ nhỉnh hơn ngón tay giữa của tôi một chút. Hai người khác thì kẻ đứng bên phải,
người đứng bên trái để giúp anh ta. Quả anh ta là một nhà hùng biện có tài, tôi có thể nhận
thấy nhiều đoạn đe dọa và nhiều đoạn hứa hẹn, rộng lượng và khoan dung. Tôi đáp lại vài ba
lời bằng một giọng quy phục, tay trái giơ lên và mắt ngước nhìn mặt trời như thể muốn là trời
làm chứng giám. Tôi đói gần chết, bởi vì trước khi dời con tàu, từ lâu tôi không được ăn uống
gì. Thôi thì mặc những phép tắc của lối xã giao tối thiểu, bởi vì dạ dày tôi lúc đó đang gào thét,
tôi nóng lòng nóng ruột đưa ngay mấy ngón tay vào mồm, ra ý đòi ăn. Viên quan hurgo (tiếng
gọi viên quan đại thần, theo như tôi hiểu từ ấy) hiểu ngay. Ông ta xuống đất và ra lệnh cho bắc
nhiều thang bên sườn tôi. Trên một trăm người leo lên thang, tiến về phía miệng tôi, họ vác
những thúng thịt đầy ăm ắp. Những thức ăn đó đã được chuẩn bị và cung cấp theo lệnh của nhà
vua, ngay từ khi vua được tin tôi đến xứ sở của ngài. Tôi nhận ra các loại thịt của một thú vật,
nhưng không phân biệt được đích xác thịt gì. Có thịt vai, có chân giò, lườn, thái từng miếng như
thịt cừu, làm rất khéo nhưng nhỏ hơn cánh chim cắt. Tôi nhai hai ba miếng một lần và chén
một miếng ba khoanh bánh to bằng viên đạn súng hỏa mai. Những người tí hon ra sức xúc rất
nhanh cho tôi, ai nấy đều tỏ vẻ hết sức thán phục và ngạc nhiên trước cái thân hình khổng lồ và
sức ăn ghê gớm của tôi. Sau đó tôi ra hiệu muốn uống nước. Thấy tôi ăn nhiều như thế, những
người tí hon đoán chắc tôi uống không ít. Rất khéo léo và tài tình, họ đưa được lên bàn tay tôi
cái thùng ton-nô to nhất rồi tháo nắp ra. Tôi uống một hơi cạn thùng, cái đó chẳng có gì lạ, bởi
vì nó chỉ bằng một chén nước, vị gần giống như rượu vang Burgundy hảo hạng và ra hiệu còn
muốn uống nữa, nhưng không còn thùng nào. Sau khi thấy tôi lập những chiến công lừng lẫy
như vậy, họ hò reo vui vẻ và vừa nhảy múa trên ngực tôi vừa nhắc lại nhiều lần mấy tiếng lúc
trước: hekinah degul. Họ ra hiệu cho tôi ném hai cái thùng xuống. Họ hét lên mấy tiếng: borach
mevolah để bảo mọi người tránh ra xa. Khi thấy mấy cái thùng tung lên trời, họ đồng thanh reo
lên: hekinah degul. Thú thật là khi họ đi đi lại lại trên người tôi, lắm lúc tôi muốn túm lấy bốn,
năm chục chú, vứt xuống đất. Nhưng nhớ lại sự đau đớn, và chắc đó chưa phải là những đòn
đau nhất họ có thể dành cho tôi, và nhớ lại lời hứa danh dự khi tôi có vẻ quy phục, tôi vội vàng
bỏ cái ý định điên rồ ấy đi. Thêm nữa, bây giờ tôi tự coi như đã bị ràng buộc vào những quy tắc
của một người khách đối với một dân tộc đã đón tiếp tôi một cách khoan dung và trang trọng
như vậy. Và, càng suy nghĩ, tôi càng khâm phục lòng can đảm của những chú bé tí hon đã có
gan trèo lên mình tôi, đi đi lại lại trong khi một tay tôi không bị trói, và họ không hề run sợ khi
trông thấy một sinh vật kỳ dị như tôi. Một lát sau, thấy tôi không đòi ăn nữa, một viên quan đại
thần, nhân danh đức vua, ra trước mắt tôi. Ông ta trèo lên chân phải tôi, cùng mười hai người
tùy tùng tiến lên mặt tôi.
Ông quan đại thần mở ra một giấy ủy
nhiệm có áp triện rồng rồi đặt trước mặt
tôi, ông ta nói một hồi đến mười phút,
giọng không có gì giận dữ nhưng rất kiên
quyết, nhiều lần giơ tay về một phía - sau
này tôi mới hiểu là phía thủ đô, cách
khoảng nửa dặm, nơi hoàng thượng cùng
Hội đồng đã quyết nghị dời tôi về đấy.
Tôi đáp lại vài ba tiếng, nhưng mất công
toi. Tôi liền lấy tay trái làm hiệu tôi muốn
được hoàn toàn tự do, bằng cách áp tay
trái vào cánh tay phải - cố tránh giơ tay
qua đầu viên quan, sợ đụng phải ông ta
và đoàn tùy tùng. Hình như ông ta hiểu
cả, bởi vì ông ta lắc đầu và lấy tay làm
hiệu cho tôi biết rằng tôi sẽ bị khiêng đi
như một người tù. Song, ông ta lại ra hiệu cho tôi biết, tôi sẽ được ăn uống đầy đủ và sẽ được
đối đãi tốt. Thấy vậy, một lần nữa, tôi muốn dứt những dây trói. Nhưng nghĩ đến nhưng mũi
tên cắm tua tủa trên mặt và tay, nay nhiều nốt đã sưng vù và còn nhiều mũi tên vẫn cắm chặt
vào thịt, tôi đành quyết định phải quy phục không điều kiện. Thế là viên Hurgo và đoàn tùy
tùng rút lui với những lễ nghi rất lịch sự. Một lát, tôi nghe thấy tiếng hò reo, mấy tiếng: peplom
selan luôn luôn được nhắc lại. Tôi cảm thấy một đoàn người rất đông đang nới bớt dây trói cho
tôi ở phía sườn bên trái. Thế là tôi có thể quay mình sang bên phải, cứ thế đái một bãi to
tướng, nhẹ hẳn người. Những người xung quanh hết sức ngạc nhiên, họ thấy tôi cử động và
đoán được tôi sẽ làm gì, nên tức khắc giạt ra hai bên để tránh con suối cứ tồ tồ và dữ dội phun
ra từ người tôi. Trước đó, họ xoa lên mặt và tay tôi một thứ dầu thơm mát, làm cho chỉ vài
phút sau những vết thương dịu hẳn đi. Đã dễ chịu như thế, lại thêm một bữa ăn uống no nê,
nhiều chất bổ, nên tôi buồn ngủ díp mắt lại. Tôi đánh một giấc tám tiếng đồng hồ liền - sau này
người ta bảo tôi như vậy. Cái đó chẳng có gì lạ, bởi vì, theo lệnh của nhà vua, thầy thuốc đã pha
thuốc ngủ vào hai thùng rượu.
Hình như vừa thấy tôi nằm ngủ trên bờ biển, người ta báo tin ngay cho đức vua. Hội đồng
họp và quyết nghị tôi sẽ bị trói như đã kể bên trên (tôi bị trói lúc ban đêm, khi tôi ngủ li bì),
thức ăn và đồ uống được đưa đến cho tôi và người ta chuẩn bị một cái xe để chở tôi về thủ đô.
Theo tôi, quyết định cuối cùng này táo bạo và nguy hiểm. Và tôi tin rằng, trong những trường
hợp tương tự, không một ông vua nào ở châu Âu dám làm như thế cả. Song, theo tôi nghĩ, đó là
một hành động khôn ngoan và độ lượng. Bởi vì, giả dụ những người tí hon này định giết tôi
bằng cung tên và giáo mác trong lúc tôi ngủ, tôi có thể bị đau mà thức dậy, lúc ấy, tôi sẽ phát
cáu lên, và sức khỏe có thể tăng gấp bội, đủ để dứt tung dây trói. Thế là, họ đâu có đủ sức chống
lại tôi, họ có thể bị giết sạch.
Những người tí hon là những nhà toán học tuyệt vời và có một kỹ thuật hoàn hảo, bởi vì đức
vua của họ vốn nổi tiếng là ưu đãi các nhà khoa học, thường khuyến khích nghiên cứu các công
trình kỹ thuật. Vua có nhiều máy đặt trên bánh xe để chuyên chở gỗ và các đồ vật nặng khác.
Nhiều khi, vua cho đóng tàu chiến lớn ở ngay trong rừng (có những chiếc tàu dài tới chín mươi
foot5) và cho vận chuyển đến tận biển, cách đó có khi tới một trăm rưỡi hay hai trăm fathom.
Năm trăm thợ mộc và kỹ sư tức khắc được huy động để làm ngay một cái máy đồ sộ nhất. Đó
là một cái khung bằng gỗ, cao hơn mặt đất ba inch dài chừng bảy foot, rộng bốn foot, đặt trên
hai mươi hai bánh xe. Những tiếng hò reo tôi nghe thấy lúc nãy là do người ta thấy cái máy ấy
được chuyển tới. Cái máy được hoàn thành không quá bốn tiếng đồng hồ. Người ta đặt nó song
song với chiều tôi nằm. Điều khó nhất là nhấc được tôi và đặt lên xe. Hai mươi hai cái cọc cao
một foot đã được nối bằng những cái móc, móc vào nhưng dây băng dài quấn quanh cổ, tay,
chân và mình tôi. Chín trăm người được lựa chọn cẩn thận, có trách nhiệm kéo những dây
thừng buộc vào cột có bánh xe. Thế là chưa đến ba tiếng đồng hồ, người ta nhấc được tôi lên và
đặt trên xe, rồi trói chặt tôi lại. Tất cả những câu chuyện này, về sau tôi được nghe kể lại, bởi vì
lúc ấy tôi ngủ li bì. Một nghìn rưỡi con ngựa khỏe nhất của vua - mỗi con cao chừng bốn inch
rưỡi - kéo tôi về thủ đô, ở cách đấy một nửa dặm, như tôi đã nói.
Chúng tôi lên đường được chừng bốn giờ thì bất thần một việc làm ngu ngốc đánh thức tôi
dậy. Lúc ấy, chiếc xe dừng lại một lát để sửa một bộ phận bị trục trặc, ba hay bốn cậu thanh
niên tò mò muốn xem tôi lúc ngủ. Các cậu leo lên xe, rón rén tiến đến mặt tôi. Một cậu - một sĩ
quan cận vệ - lấy ngọn giáo thọc khá sâu vào lỗ mũi bên trái của tôi. Tôi thấy buồn buồn như có
cọng rơm cù lỗ mũi, liền hắt hơi một cái. Thế là các cậu nhanh nhẹn lủi mất. Ba tuần lễ sau tôi
mới biết tôi bị đánh thức dậy như thế nào. Suốt ngày hôm ấy, chúng tôi đi như vậy. Đêm đến,
năm trăm người canh gác tôi, cả bên phải và bên trái, kẻ cầm đuốc, người cầm tên và nỏ, tư thế
sẵn sàng nhả tên nếu tôi động đậy. Khi mặt trời mọc, chúng tôi lại đi, đến giữa trưa, thì còn
cách cổng thành chừng một trăm fathom. Hoàng thượng và cả triều đình ra đón chúng tôi
nhưng các vị tướng cao cấp nhất định không để cho hoàng thượng leo lên mình tôi, sợ nguy
hiểm đến tính mệnh.
Nơi cỗ xe đỗ có một ngôi đền cổ, là nơi rộng nhất vương quốc. Cách đây mấy năm, ở nơi này
xảy ra một vụ giết người gớm ghiếc, nên theo tôn giáo của xứ sở nơi đó bị coi là một nơi uế
tạp. Bởi vậy, nó chỉ còn dùng vào việc bình thường, mọi vật trang hoàng, bàn ghế đều bị mang
đi hết. Đấy, tôi phải ở nơi như thế. Cái cổng lớn quay về phương bắc, cao bốn foot, rộng gần hai
foot tôi có thể bò toài vào một cách dễ dàng. Hai bên cổng có cửa sổ cao hơn mặt đất gần sáu
inch. Những thợ rèn của nhà vua đã luồn qua cửa sổ bên trái chín mươi mốt cái xích to bằng
dây đeo đồng hồ của phụ nữ châu Âu, người ta quấn dây xích vào cổ chân tôi rồi khóa lại bằng
ba mươi sáu cái khóa. Bên kia đường cái, trước mặt ngôi đền, cách xa chừng hai mười foot, có
một cái tháp cao ít nhất là năm foot. Vua thường leo lên đấy cùng với các quan đại thần để nhìn
tôi - sau này người ta kể lại cho tôi biết, bởi vì tôi không thể trông thấy họ. Người ta ước tính
có đến trên mười vạn dân thủ đô ra ngoại thành để xem tôi. Và mặc dù lính gác ngăn cản, tôi
tính có đến một vạn người dùng thang leo lên mình tôi. Về sau, một sắc lệnh cấm mọi người
làm như vậy, ai vi phạm sẽ bị xử tử. Khi những người thợ chắc chắn rằng tôi không thể dứt
xiềng xích ra được, người ta mới cởi mọi dây trói. Thế là tôi ngồi dậy, lòng buồn tê tai. Thấy tôi
ngồi dậy, mọi người tỏ vẻ sửng sốt
và ngạc nhiên không sao tả được.
Xích quấn chân trái tôi dài khoảng
sáu foot, khiến tôi không những đi
lại được một nửa vòng tròn, mà còn
có thể bò toài được vào ngôi đền và
nằm dài trong đó.
CHƯƠNG 2
Vua nước Lilliput và đoàn tùy tùng quý tộc đến thăm tác giả lúc bị giam cầm - Miêu tả đức
vua, con người và y phục - Những nhà bác học được chỉ định để dạy tiếng Lilliput cho tác giả Vì tính tình hiền hậu, tác giả được ưu đãi người ta khám xét túi áo, kiếm và súng lục bị tịch thu.
Đứng dậy, tôi nhìn chung quanh, phải công nhận rằng tôi chưa hề thấy cảnh tượng nào xinh
xắn nhường ấy. Vùng chung quanh giống như một khu vườn, đồng ruộng mỗi bề bốn mươi
foot, có rào bao vây, trông như những luống hoa. Xen vào đồng ruộng là những khu rừng thưa
rộng chừng nửa cây sào, cây to nhất hình như cao không quá bảy foot. Bên trái là thành phố,
giống như một bức tranh trang trí ở rạp hát.
Đã hàng mấy giờ, tôi ra sức chống chọi với nhu cầu của tự nhiên. Chẳng có gì lạ, bởi vì đã gần
hai ngày trời, tôi chưa được giải phóng cái bụng. Nửa vì cần thiết, nửa vì xấu hổ, tôi không biết
làm thế nào. Tốt hơn hết là bò toài vào trong nhà và ở lỳ trong ấy. Tôi bò cho đến hết dây xích
và phóng cái chất ô uế ở trong bụng ra ngoài. Đây là lần duy nhất trong đời. tôi làm một việc
bẩn thỉu như vậy. Nhưng rồi chẳng thể không nghĩ rằng, bạn đọc yêu mến sẽ tha thứ cho tôi,
sau khi suy nghĩ nghiêm chỉnh và vô tư về hoàn cảnh của tôi và cái bi đát trong trường hợp
này. Từ hôm ấy, tôi tập thói quen làm cái nhu cầu tự nhiên ấy vào lúc mới dậy, ở giữa trời, sau
khi đi hết sợi xích. Mỗi sáng người ta xúc cái của quý ấy vào mấy cái xe đóng kín. Hai người tí
hon được chỉ định làm việc này. Tôi sẽ không miêu tả dài dòng việc này, thoạt đầu có vẻ chẳng
quan trọng vì: nếu tôi không coi là cần thiết phải làm cho mọi người có một ý niệm chính xác
về đức tính sạch sẽ của tôi. Bởi vậy, người ta kể rằng có những kẻ muốn ám hại tôi, thích thú
làm cho mọi người nghi ngờ cái đức tính này của tôi.
Việc xong xuôi, tôi ra khỏi nhà hít thở
không khí mát mẻ. Vua đã từ trên tháp
bước xuống, ngài cưỡi ngựa, tiến về phía
tôi. Ngài suýt phải trả một giá đắt. Mặc
dù con ngựa rất tinh khôn, nhưng nó
chưa hề trông thấy con quái vật như tôi.
Trước cái núi biết động đậy, nó lồng lên.
Đức vua, mặc dù cưỡi ngựa tài giỏi, chỉ có
thể ngồi trên yên cho đến khi đoàn người
hầu chạy đến ghì ngựa lại. Khi ngài đã
xuống ngựa, ngài ngắm nhìn tôi, vẻ rất
khâm phục, nhưng vẫn đứng ngoài tầm
với của tôi. Ngài ra lệnh cho những tay
đầu bếp và những người hầu mang cỗ
bàn, rượu thịt ra cho tôi. Tức khắc, mấy xe được- chở đến. Tôi nhanh nhảu mang mọi thứ
xuống. Khoảng hai chục xe chất đầy thịt và một chục xe chở nước uống. Mỗi xe thịt tôi ăn hai,
ba miếng là hết, tôi đổ mười cái chum sứ chứa trong một xe vào miệng và tu một hơi. Những
xe khác, tôi cũng làm như vậy. Hoàng hậu và các hoàng tử, công chúa, cùng đoàn nữ tì, dừng lại
khá xa trên kiệu.
Khi xảy ra cái việc không hay cho con ngựa của vua, họ mới bước cả xuống đất và đến bên
vua mà tôi xin miêu tả bây giờ. Vua cao hơn tất cả triều thần một cái móng tay của tôi, như thế
cũng đủ làm cho mọi người phải khiếp sợ. Nét mặt cương nghị và cường tráng, cái miệng kiểu
dân nước Áo, mũi khoằm, nước da ngăm ngăm, dáng đứng thẳng, thân mình, tay chân cân đối,
cử chỉ duyên dáng và tư thế oai nghiêm. Ngài hai mươi tám tuổi, đã qua tuổi hoa niên và đã trị
vì bảy năm đầy hạnh phúc, bởi vì ngài chỉ có chiến thắng. Để nhìn ngài được rõ hơn, tôi nằm
nghiêng, mặt tôi ngang với mặt ngài. Ngài đứng cách tôi chỉ một fathom rưỡi. Song, từ ngày ấy,
đã biết bao lần tôi cầm ngài trong tay, nên tôi miêu tả ngài chả thể sai lầm được. Y phục của
ngài rất giản dị, cắt kiểu nửa châu Âu, nửa châu Á. Ngài đội một cái mũ bằng vàng nạm ngọc,
cắm một cái lông chim. Ngài cầm trong tay một thanh kiếm, sẵn sàng tự vệ nếu tôi bẻ gẫy xích.
Kiếm dài tài ba inch, đốc kiếm và bao kiếm bằng vàng nạm kim cương. Giọng nói thanh, rất
trong và rõ ràng, ngay khi tôi đứng tôi cũng nghe rõ từng tiếng một. Các công chúa cùng các
cung tần mỹ nữ và triều thần ăn mặc lộng lẫy, nên nơi họ đứng làm ta hình dung như một cái
váy thêu hoa vàng và bạc, trải xuống đất. Đức vua luôn miệng nói chuyện với tôi và tôi đáp lại,
nhưng chúng tôi không hiểu nhau đến một tiếng. Một số nhà tu hành và luật gia (tôi đoán vậy,
theo y phục của họ) dự vào câu chuyện của chúng tôi. Họ được lệnh nói chuyện với tôi, tôi đáp
lại bằng tất cả mọi thứ tiếng mà tôi biết loáng thoáng, tiếng Đức bình dân, tiếng Đức bác học,
tiếng Latin, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng ý, tiếng pha tạp Franca6 nhưng đều vô hiệu.
Khoảng hai giờ sau, các vị rút lui. Tôi được một đội cận vệ canh giữ không cho đám người đông
đảo hỗn xược và độc ác cứ định đổ ào vào tôi. Có kẻ táo bạo nhằm bắn tôi mấy mũi tên lúc tôi
ngồi ở bậc cửa, có mũi suýt trúng mắt trái. Viên sĩ quan chỉ huy tức khắc cho bắt sáu kẻ cầm
đầu, và nghĩ rằng cách trừng phạt tốt nhất là trói họ lại, nộp cho tôi. Những người lính lấy ngọn
giáo đẩy họ vào đến tầm với của tôi. Tôi túm lấy cả bọn, nhét năm chú vào túi áo. Còn chú thứ
sáu, tôi làm ra vẻ muốn nhai sống. Chú ta thét lên khủng khiếp. Viên sĩ quan chỉ huy và các sĩ
quan khác rất lo lắng nhất là khi thấy tôi rút con dao ở túi ra. Nhưng họ hết sợ hãi ngay khi
thấy tôi nhẹ nhàng cắt dây trói và khẽ đặt chú ta xuống đất. Chú ta chạy bán sống bán chết. Tôi
móc ở túi ra từng chú một và làm y hệt như vậy. Tôi nhận thấy vẻ xúc động mạnh mẽ trên nét
mặt những người lính và dân chúng trước lòng rộng lượng của tôi. Câu chuyện này đến tai vua
cùng triều đình, và có lợi cho cuộc đời tôi sau này.
Tối đến, tôi buồn bã trườn vào căn nhà
và nằm dài trên đất. Cứ như vậy độ mười
lăm ngày. Trong khi đó, vua hạ lệnh đóng
cho tôi một cái giường. Sáu trăm cái nệm
giường bình thường được mang đến và
chất trong nhà. Một trăm năm mươi cái
khâu liền với nhau đủ làm nệm cho tôi.
Người ta chất bốn tầng nệm như thế, gọi
là tạm đủ để tôi khỏi phải nằm trên nền
đá cứng. Họ còn tính toán, làm cho tôi
khăn trải giường, chăn đắp, chăn phủ
chân, khá dễ chịu cho những kẻ như tôi,
từ lâu nay vẫn phải gối đất nằm sương.
Cái tin tôi đến xứ sở này đã lan tràn
vương quốc. Những người giàu có, nhàn
rỗi hay tò mò đến xem tôi đông vô kể.
Làng mạc khắp xứ vắng tanh vắng ngắt.
Nếu đức vua không ngăn chặn trước bằng
những pháp lệnh cần thiết thì việc đồng
áng và cuộc sống hằng ngày sẽ bị thất
thiệt nhiều. Những ai đã được thấy tôi
phải trở về nhà ngay và không được đến
gần tôi quá hai mươi lăm fathom nếu
không có giấy phép đặc biệt. Vì vậy, các vị
tổng trưởng tha hồ kiếm chác.
Trong khi đó, vua mở nhiều hội nghị
thảo luận cách đối xử với tôi. Sau này, tôi
được một người bạn chí thiết - một viên
quan quý tộc biết mọi bí mật - cho biết
triều đình rất lúng túng. Một mặt, họ sợ tôi có thể bẻ gẫy xiềng xích, mặt khác, họ sợ việc nuôi
tôi tốn kém quá, có thể gây nên nạn đói trong nước. Có lúc họ thiên về ý định để mặc cho tôi
chết đói, hoặc ít nhất cũng bắn nhưng mũi tên tẩm thuốc độc vào mặt, vào tay tôi cho tôi chết.
Nhưng như vậy cái xác khổng lồ của tôi thối rữa ra, có thể gây nên nạn dịch trong thành phố,
rồi lan ra toàn quốc. Giữa lúc bàn cãi ấy, mấy viên sĩ quan đến trình diện ở cái cửa lớn của
phòng hội nghị, hai người được đưa vào phòng, kể lại đầu đuôi sự việc đã xảy ra với sáu kẻ dại
dột như tôi trình bày bên trên. Báo cáo này làm đức vua và tất cả hội nghị xúc động, vì vậy vua
ban lệnh ngay tức khắc: những người ở năm trăm fathom chung quanh thành phố có nhiệm vụ
cung cấp mỗi sáng sáu con bò, bốn mươi con cừu và các thứ thịt khác, với một tỷ lệ tương ứng
bánh mì, rượu vang và đồ uống khác. Vua sẽ phát phiếu ngân khố để trả tiền số lương thực,
thực phẩm ấy. Vua sống về lợi tức đất đai riêng của mình, chỉ khi có những sự việc lớn mới thu
thuế của thần dân. Người dân phải đóng góp và phụng sự nhà vua những khi có chiến tranh.
Riêng tôi được sáu trăm người hầu hạ, những người này được hưởng lương bổng. Hai bên cửa
nhà tôi, người ta căng những lều vải cho họ ở, rất thuận tiện. Ba trăm thợ may được lệnh may
cho tôi một bộ quần áo kiểu xứ sở, và sáu nhà bác học uyên thâm bậc nhất sẽ dạy tôi học tiếng
Lilliput. Sau cùng, ngựa của vua và của cả hoàng tộc thường được dắt đến gần tôi để chúng
trông cho quen mắt. Tất cả các lệnh được nghiêm chỉnh chấp hành. Chỉ ba tuần lễ, tôi đã tiến
bộ nhiều trong việc học tiếng địa phương. Thời gian đó, đức vua hạ cố đến thăm tôi luôn và
ngài rất vui thích giúp đỡ các giáo sư của tôi. Chúng tôi bắt đầu trao đổi với nhau được vài ba
câu chuyện. Những tiếng tôi học đầu tiên là để: "Xin hoàng thượng cho tôi được tự do". Hằng
ngày , tôi quỳ xuống nhắc lại lời van xin ấy. Vua đáp lại rằng - tôi cố gắng hết sức để hiểu được
như vậy - "Đó là vấn đề thời gian, và không thể giải quyết nếu không có ý kiến của Hội đồng và
trước hết tôi phải "lumos Kelmin pesso desmar lon Emposo", tức là phải tuyên thệ gìn giữ hòa
bình với vua và xứ sở của Ngài. Trong khi chờ đợi, tôi được đối xử rất tốt. Ngài khuyên tôi nên
lấy lòng kiên trì và đức hạnh mà chinh phục lòng yêu mến của Ngài và của dân chúng. Ngài tỏ ý
muốn tôi chớ phật lòng khi có lệnh cho những viên chức có thẩm quyền...
 





