Tài nguyên thông tin thư viện

Ảnh ngẫu nhiên

Tieu_de_phu_3.jpg Tieu_de_phu_2.jpg Tieu_de_phu_1.jpg Tieu_de_phu.jpg HUONG_UNG_HOC_TAP_SUOT_DOI_NAM_2025.jpg

BẢN TIN THƯ VIỆN

< Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

Sách điện tử sách Bác Hồ

Sách điện tử sách thiếu nhi

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • THƯ VIỆN NƠI LƯU GIỮ TRI THỨC

    💕💕 “XIN CHÀO ĐÓN TOÀN THỂ BẠN ĐỌC ĐẾN VỚI THƯ VIỆN SỐ TRƯỜNG THCS LẠC LÂM” 💕💕

    Gulliver Du Kí

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Bùi Thị Thêu
    Ngày gửi: 10h:30' 13-05-2024
    Dung lượng: 7.7 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    LỜI GIỚI THIỆU
    "Gulliver du ký" là cuốn sách được cả thế giới đọc trong mấy thế kỷ qua và đã được dịch ra hầu
    hết các thứ tiếng. Đặc biệt, bạn đọc nhỏ tuổi rất yêu thích những câu chuyện phiêu lưu tưởng
    tượng kỳ thú, đưa các em đến thế giới của những người tí hon, bé chỉ bằng ngón chân cái,
    nhưng có cuộc sống chẳng khác gì những người bình thường, rồi lại được đến đất nước của
    những người khổng lồ, một thế giới kỳ diệu nơi những con người đầy lòng nhân ái, ngay thẳng.
    Ở đó, con khỉ to bằng con voi và có lần Gulliver phải rút kiếm ra chiến đấu với hai con chuột
    định xông vào ăn thịt mình... "Gulliver du ký" là cuốn sách của mọi lứa tuổi. Trẻ em tìm thấy ở
    đó những câu chuyện kỳ lạ, có người tốt, kẻ xấu. Người lớn thì rút ra được những bài học về
    cách xử thế ở đời. Những nhà tư tưởng thì tìm thấy những lời phê phán chua chát cái xã hội
    nhỏ nhen là nước Anh đã đương thời, đúng như tầm vóc tí hon của người nước Lilliput và ca
    ngợi tâm hồn trong sáng, cao đẹp của những người khổng lồ xứ Brobdingnag.
    "Gulliver du ký" của Jonathan Swift (1667-1745), được in lần đầu năm 1726 và nhanh chóng
    được cả thế giới biết đến. Cuốn sách ra đời đã gần ba thế kỷ nhưng đến nay vẫn được nhiều thế
    hệ độc giả yêu thích và tìm đọc. "Gulliver du ký" là cuốn sách chiến đấu. Nó chống lại những
    những kẻ thống trị là giai cấp phong kiến và tư sản xấu xa, tàn ác, phản kháng chế độ xã hội bất
    công, ca ngợi lòng khoan dung, độ lượng và chủ nghĩa nhân đạo. Nhưng tất cả những ước mơ
    của tác giả chỉ là những tưởng tượng trong thế giới ảo nên ông dễ đi đến bi quan, chán nản.
    "Gulliver du ký" là một tác phẩm châm biếm. Tác giả dùng tiếng cười, nhiều khi chua chát, để
    phê phán thói hư tật xấu của triều đình Lilliput. Nhiều lúc tưởng như ông bênh vực, ca ngợi
    nước Anh: "Tổ quốc vinh quang", "niềm tự hào của vũ trụ"... nhưng sự thật đó là những lời mỉa
    mai, chỉ trích sâu sắc. Cũng có khi, tưởng như ông chê bai người nước Brobdingnag "dốt nát",
    "thiển cận", nhưng sự thật lại là những lời ca ngợi lòng nhân ái, trung thực của những người
    khổng lồ.
    "Gulliver du ký" là một cuốn chuyện "du ký" kể về những cuộc phiêu lưu của Gulliver, có
    nhiều cảnh tượng hấp dẫn, kỳ thú, nửa như thật, nửa như tưởng tượng, những câu chuyện dí
    dỏm nhưng mang ý nghĩa sâu xa. Những cảnh tả con tàu trong bão tố hay những con vật khổng
    lồ, thành phố và cung điện tí hon, chứng tỏ tài năng, óc quan sát tinh tế và trí tưởng tượng
    phong phú của tác giả. Chính gì vậy, tất cả mọi người - nhất là trẻ em - sẽ còn đọc mãi "Gulliver
    du ký" của Jonathan Swift.
    ĐỖ ĐỨC HIỂU
    NHÀ XUẤT BẢN VĂN HÓA THÔNG TIN - 2008
    Dịch từ: bản tiếng Pháp: "Voyages de Gulliver" do André Desmon dịch từ Tiếng Anh - Nhà xuất
    bản: "Leclub Francais du livre", 1949
    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    PHẦN I: CUỘC DU LỊCH ĐẾN XỨ LILLIPUT

    CHƯƠNG 1
    Tác giả kể vài ba câu chuyện về bản thân và gia đình - Ông đã ham thích du lịch như thế nào Đắm tàu - Tác giả thoát chết - Ông bơi được vào bờ biển nước Lilliput - Ông bị cầm tù và giải
    vào nội địa.
    Cha tôi có một trang trại nhỏ tại vùng
    Nottingham. Cha tôi có năm con trai, tôi là thứ
    ba. Năm mười bốn tuổi, tôi đến Cambridge theo
    học trường Emanuel. Ba năm trời, tôi học chăm
    chỉ. Chẳng may, số tiền nuôi tôi ăn học tuy chẳng
    đáng là bao, nhưng số tiền ấy cũng đã trở thành
    một gánh nặng cho gia đình vốn nghèo túng. Thế
    là tôi bị gửi đi tập việc tại nhà giải phẫu danh
    tiếng của ông James Bates, một nhà giải phẫu nổi
    tiếng ở Luân Đôn. Tôi tập việc ở đấy bốn năm.
    Thỉnh thoảng, cha tôi gửi cho tôi ít tiền. Tôi dùng
    số tiền này để học nghề hàng hải và những môn
    toán cần thiết cho người đi biển, bởi vì tôi luôn
    luôn nghĩ rằng, một ngày mai đây, đó phải là số
    mệnh của tôi. Sau khi từ biệt ông Bates, tôi trở về
    nhà. Cha tôi, chú tôi là John cùng vài ba người họ
    hàng thân thân nữa gom góp cho tôi món tiền
    bốn mươi sterling1 và hứa hằng năm sẽ cung cấp
    cho tôi ba mươi sterling để tôi ăn học ở Leyden.
    Tôi học ngành thuốc trong thời gian hai năm, bảy
    tháng, tôi biết rằng nghề chữa bệnh này rất cần
    thiết cho những cuộc du lịch lâu dài.
    Ở Leyden về nhà chẳng được bao lâu, tôi được
    ông Bates giới thiệu cho làm một chân thầy
    thuốc trên tàu Con Nhạn, dưới quyền chỉ huy của
    thuyền trưởng Abraham Pannel. Tôi làm việc với
    ông ta ba năm ruỡi, đi một vài chuyến sang vùng
    biển phương Đông và vài ba nơi khác trên thế
    giới. Về đến nhà, tôi quyết định ở lại Luân Đôn.
    Ông Bates khuyến khích tôi ở lại, giới thiệu cho
    tôi nhiều bệnh nhân của ông. Tôi thuê một ngôi
    nhà nhỏ ở xóm Jewry. Nghe lời mọi người khuyên nên lấy vợ, tôi cưới cô Mary Burton, con gái
    thứ hai ông Edmund Burton, một người làm nghề khâu mũ vải ở phố Newgate. Tôi được
    hưởng của hồi môn trị giá bốn trăm sterling.
    Nhưng hai năm sau, ông Bates - thầy học của tôi - qua đời. Tôi vốn ít giao thiệp nên công việc
    bắt đầu sút dần, vì lương tâm không cho phép tôi bắt chước dùng những mánh khóe như một
    số bạn đồng nghiệp. Sau khi bàn bạc với vợ tôi và mấy người bạn, tôi quyết định lại đi biển. Tôi
    nhận chân thầy thuốc trên hai con tàu. Và trong sáu năm trời, tôi đã đi nhiều chuyến sang Nam
    Dương và sang Mỹ. Nhờ vậy mà số tiền tôi để dành đã được kha khá. Những lúc rỗi, tôi có đọc
    các tác giả cổ kim hay nhất, vốn lúc nào tôi cũng mang theo sách bên mình. Khi lên đất liền, tôi
    quan sát phong tục tập quán của người địa phương và học tiếng nói của họ, vì trí nhớ của tôi
    rất tốt nên tôi học khá dễ dàng.
    Chuyến đi cuối cùng của tôi không may mắn lắm, nên tôi chán nghề đi biển và quyết định ở
    nhà với vợ con. Tôi dời nhà khỏi khu Old Jewry, sang khu Fetter Lane, rồi sang khu Wapping,
    với niềm hy vọng kiếm được nhiều việc làm với anh em thủy thủ. Nhưng tôi đã tính toán sai.

    Sau ba năm cố gắng thu xếp công việc không có kết quả, tôi nhận lời thuyền trưởng William
    Prichard, chỉ huy tàu Antelope đi về biển phương Nam. Ngày 4 tháng 5 năm 1699, chúng tôi
    dời bến Bristol. Thoạt đầu, chuyến đi rất thuận buồm xuôi gió.
    Tôi sẽ làm bạn đọc khó chịu nếu tôi kể tỉ mỉ với các bạn những cuộc phiêu lưu trên mặt biển
    phương Nam. Bạn đọc chỉ cần biết rằng, khi chúng tôi đang tiến về phía quần đảo Nam Dương,
    thì một cơn bão dữ dội cuốn thuyền chúng tôi về hướng tây bắc miền Van Diemen. Khi định
    được phương hướng, chúng tôi thấy mình đang ở vĩ tuyến nam 30 độ 2 phút. Mười hai người
    trong đoàn thủy thủ đã chết vì kiệt sức và thiếu ăn, những người còn sống trông rất thảm hại.
    Ngày 5 tháng mười một nghĩa là vào đầu mùa hè ở cái phần quả địa cầu này, qua màn sương
    mù dày đặc một thủy thủ bỗng thấy một mỏm đá cách tàu có một sải tay. Nhưng gió thổi mạnh
    quá, tàu đâm sầm vào tảng đá. Sáu anh em chúng tôi thả được chiếc sà-lúp xuống biển, cố sức
    bơi xa con tàu và mỏm đá. Chèo mãi, chèo mãi, chúng tôi đi được ba dặm2. Nhưng kiệt sức vì
    những công việc chống chọi trên con tàu lúc trước nên chúng tôi không còn hơi để chèo nữa và
    chúng tôi mặc cho sóng cuốn di. Khoảng nửa giờ sau, một cơn gió giật lật úp sà-lúp.
    Số phận năm người bạn và những thủy
    thủ mắc ở mỏm đá, tôi không biết ra sao.
    Nhưng chắc họ chết cả rồi. Một mình tôi
    cứ thế bơi theo hướng gió thổi và thủy
    triều. Nhiều khi tôi đưa chân quờ quạng
    xem đã tới đất chưa, nhưng chẳng thấy
    gì. Đúng lúc tôi đã kiệt sức, định bỏ cuộc
    chiến đấu, thì chân tôi chạm tới đất, lúc
    này bão đã ngớt. Dốc thoai thoải kéo dài
    nên tôi phải lần đi gần một dặm mới tới
    bờ. Lúc ấy chắc đã tám giờ tối. Tôi tiếp
    tục đi gần nửa dặm nữa mà chẳng thấy
    dấu vết nhà cửa hay bóng người. Hoặc, vì
    mệt quá nên tôi chẳng trông thấy gì. Đã
    kiệt sức lại thêm nóng bức, và tôi đã uống
    nửa chai rượu mạnh lúc dời bỏ con tàu,
    nên lúc này tôi buồn ngủ quá. Tôi nằm
    lăn xuống bãi cỏ rất mịn, ngủ một giấc say như chết khoảng chín tiếng đồng hồ, vì lúc thức dậy,
    trời đã hửng sáng. Tôi cố ngồi dậy nhưng không sao động đậy được. Đúng thế, lúc ấy tôi nằm
    ngửa, tôi thấy hai tay hai chân tôi bị trói chặt xuống đất, cả cái mớ tóc dài và rậm của tôi cũng
    bị buộc chặt xuống đất. Cả mình tôi, suốt từ nách đến đùi, đầy những dây rợ mỏng manh chằng
    chịt. Tôi chỉ có thể nằm ngửa nhìn trời mà thôi. Mặt trời đã lên cao làm tôi chói cả mắt. Tôi
    nghe thấy tiếng rì rầm, nhưng tôi nằm kiểu ấy nên chẳng thấy gì ngoài bầu trời. Một lát sau, tôi
    thấy một cái gì động đậy, bò bò trên chân trái tôi, nhẹ nhàng tiến lên đến ngực, rồi đến cằm.
    Tôi cố hết sức cúp mắt nhìn xuống thì thấy đó là một người bé tí xíu cao độ 6 inch3, tay cung,
    tay tên, lưng đeo một cái ống đựng tên. Cùng lúc ấy, tôi đoán phỏng chừng bốn mươi người
    khác, cũng cỡ ấy đang đi theo anh ta.
    Kinh ngạc hết sức, tôi gầm lên làm cả toán khiếp hãi bỏ chạy tán loạn. Sau này, người ta kể
    cho tôi biết số người tí hon ấy xô nhau nhảy từ sườn tôi xuống đất đã bị thương. Nhưng rồi họ
    quay trở lại và một người liều mình đến tận mặt tôi xem cho rõ, rồi mắt nhìn lên trời, hai tay
    giơ cao lên, ra vẻ thán phục lắm và kêu lên một tiếng tuy the thé nhưng rõ ràng: Hekinah degul.
    Những người khác nhắc lại nhiều lần những tiếng ấy, nhưng tôi chẳng hiểu gì hết. Trong khi ấy,
    tôi cứ nằm trong cái thế rất bất tiện, như bạn đọc có thể hình dung được. Sau cùng, tôi lấy hết
    sức bình sinh để tự giải phóng, may thay những dây trói và cọc buộc tay trái tôi đứt bung. Tôi
    giơ tay lên mặt và biết cách họ đã trói tôi như thế nào. Cùng lúc ấy, tôi lắc đầu mạnh một cái và
    thấy đau điếng. Những dây buộc tóc tôi về phía trái chùng lại một chút, thế là tôi có thể ngóc
    đầu được vài phân. Nhưng, những chú bé tí hon ấy lại ù té chạy, tôi chẳng bắt được chú nào.
    Rồi những tiếng hò vang dậy. Sau đó một người hô to: tolgo phonac. Bỗng tôi thấy hàng trăm
    mũi tên cắm phập vào bàn tay trái, như hàng trăm mũi kim. Họ còn bắn một loạt súng lên

    không, như thể ta bắn
    đại bác vậy. Nhiều mũi
    tên bắn trúng người tôi
    (mặc dù tôi chẳng cảm
    thấy gì), bắn trúng mặt
    tôi, tôi vội vàng đưa
    bàn tay trái lên che
    mặt. Khi cơn mưa tên
    chấm dứt, tôi rên lên vì
    buồn bực và đau đớn.
    Tôi cố giằng cho đứt
    dây trói một lần nữa,
    tức thì lại một trận mưa
    tên vèo vèo, mau hơn
    đợt trước. Một số kẻ
    còn lấy giáo đâm vào
    sườn tôi. Cũng may tôi
    mặc cái áo da trâu, nên
    không sao cả. Tôi nghĩ
    không nên động đậy
    nữa là khôn hơn cả và
    định cứ nằm ì ra đó đến tận đêm tối, khi đó tôi sẽ dùng tay trái để cởi tất cả dây trói. Còn đối
    với dân cư xứ này, tôi tính một mình tôi có thể đương đầu với một đoàn quân lớn, miễn là
    người nào cũng bé nhỏ như những người tôi vừa trông thấy. Tôi có ý định như vậy, nhưng số
    phận lại quyết định cách khác. Thấy tôi nằm im, họ thôi không bắn nữa. Nghe tiếng ầm ầm, tôi
    biết là họ kéo đến ngày một đông hơn. Cách tôi chừng hai fathom 4 về bên tay phải, tôi nghe
    thấy tiếng những người thợ đang đóng cái gì. Tôi cố hết sức ngoái đầu lại và nhìn thấy một cái
    bục cao có bốn người đứng và có hai hay ba cái thang.
    Đứng trên bục, một người có vẻ quyền
    cao chức trọng đang đọc một bài diễn
    văn dài cho tôi nghe, nhưng tôi chẳng
    hiểu được đến một chữ. Nhưng trước
    tiên, cần biết rằng trước khi đọc bản hiệu
    triệu, nhân vật này đã kêu lên ba lần: lang
    ro dehul san (những tiếng này, cũng như
    những tiếng tôi đã kể bên trên, sẽ được
    nhắc lại và sẽ được giải thích ở bên
    dưới). Sau bài diễn văn, chừng năm chục
    người đến cắt những sợi dây buộc phía
    đầu bên trái tôi, thế là tôi tha hồ ngoảnh
    sang bên phải để quan sát dáng điệu của
    người vừa đọc diễn văn. Có lẽ anh ta trạc
    tuổi trung niên và trông có vẻ bệ vệ hơn
    ba anh kia. Một anh là người hầu, bởi vì
    tôi thấy anh này nâng vạt áo sau của anh
    trước và chỉ nhỉnh hơn ngón tay giữa của tôi một chút. Hai người khác thì kẻ đứng bên phải,
    người đứng bên trái để giúp anh ta. Quả anh ta là một nhà hùng biện có tài, tôi có thể nhận
    thấy nhiều đoạn đe dọa và nhiều đoạn hứa hẹn, rộng lượng và khoan dung. Tôi đáp lại vài ba
    lời bằng một giọng quy phục, tay trái giơ lên và mắt ngước nhìn mặt trời như thể muốn là trời
    làm chứng giám. Tôi đói gần chết, bởi vì trước khi dời con tàu, từ lâu tôi không được ăn uống
    gì. Thôi thì mặc những phép tắc của lối xã giao tối thiểu, bởi vì dạ dày tôi lúc đó đang gào thét,
    tôi nóng lòng nóng ruột đưa ngay mấy ngón tay vào mồm, ra ý đòi ăn. Viên quan hurgo (tiếng
    gọi viên quan đại thần, theo như tôi hiểu từ ấy) hiểu ngay. Ông ta xuống đất và ra lệnh cho bắc

    nhiều thang bên sườn tôi. Trên một trăm người leo lên thang, tiến về phía miệng tôi, họ vác
    những thúng thịt đầy ăm ắp. Những thức ăn đó đã được chuẩn bị và cung cấp theo lệnh của nhà
    vua, ngay từ khi vua được tin tôi đến xứ sở của ngài. Tôi nhận ra các loại thịt của một thú vật,
    nhưng không phân biệt được đích xác thịt gì. Có thịt vai, có chân giò, lườn, thái từng miếng như
    thịt cừu, làm rất khéo nhưng nhỏ hơn cánh chim cắt. Tôi nhai hai ba miếng một lần và chén
    một miếng ba khoanh bánh to bằng viên đạn súng hỏa mai. Những người tí hon ra sức xúc rất
    nhanh cho tôi, ai nấy đều tỏ vẻ hết sức thán phục và ngạc nhiên trước cái thân hình khổng lồ và
    sức ăn ghê gớm của tôi. Sau đó tôi ra hiệu muốn uống nước. Thấy tôi ăn nhiều như thế, những
    người tí hon đoán chắc tôi uống không ít. Rất khéo léo và tài tình, họ đưa được lên bàn tay tôi
    cái thùng ton-nô to nhất rồi tháo nắp ra. Tôi uống một hơi cạn thùng, cái đó chẳng có gì lạ, bởi
    vì nó chỉ bằng một chén nước, vị gần giống như rượu vang Burgundy hảo hạng và ra hiệu còn
    muốn uống nữa, nhưng không còn thùng nào. Sau khi thấy tôi lập những chiến công lừng lẫy
    như vậy, họ hò reo vui vẻ và vừa nhảy múa trên ngực tôi vừa nhắc lại nhiều lần mấy tiếng lúc
    trước: hekinah degul. Họ ra hiệu cho tôi ném hai cái thùng xuống. Họ hét lên mấy tiếng: borach
    mevolah để bảo mọi người tránh ra xa. Khi thấy mấy cái thùng tung lên trời, họ đồng thanh reo
    lên: hekinah degul. Thú thật là khi họ đi đi lại lại trên người tôi, lắm lúc tôi muốn túm lấy bốn,
    năm chục chú, vứt xuống đất. Nhưng nhớ lại sự đau đớn, và chắc đó chưa phải là những đòn
    đau nhất họ có thể dành cho tôi, và nhớ lại lời hứa danh dự khi tôi có vẻ quy phục, tôi vội vàng
    bỏ cái ý định điên rồ ấy đi. Thêm nữa, bây giờ tôi tự coi như đã bị ràng buộc vào những quy tắc
    của một người khách đối với một dân tộc đã đón tiếp tôi một cách khoan dung và trang trọng
    như vậy. Và, càng suy nghĩ, tôi càng khâm phục lòng can đảm của những chú bé tí hon đã có
    gan trèo lên mình tôi, đi đi lại lại trong khi một tay tôi không bị trói, và họ không hề run sợ khi
    trông thấy một sinh vật kỳ dị như tôi. Một lát sau, thấy tôi không đòi ăn nữa, một viên quan đại
    thần, nhân danh đức vua, ra trước mắt tôi. Ông ta trèo lên chân phải tôi, cùng mười hai người
    tùy tùng tiến lên mặt tôi.
    Ông quan đại thần mở ra một giấy ủy
    nhiệm có áp triện rồng rồi đặt trước mặt
    tôi, ông ta nói một hồi đến mười phút,
    giọng không có gì giận dữ nhưng rất kiên
    quyết, nhiều lần giơ tay về một phía - sau
    này tôi mới hiểu là phía thủ đô, cách
    khoảng nửa dặm, nơi hoàng thượng cùng
    Hội đồng đã quyết nghị dời tôi về đấy.
    Tôi đáp lại vài ba tiếng, nhưng mất công
    toi. Tôi liền lấy tay trái làm hiệu tôi muốn
    được hoàn toàn tự do, bằng cách áp tay
    trái vào cánh tay phải - cố tránh giơ tay
    qua đầu viên quan, sợ đụng phải ông ta
    và đoàn tùy tùng. Hình như ông ta hiểu
    cả, bởi vì ông ta lắc đầu và lấy tay làm
    hiệu cho tôi biết rằng tôi sẽ bị khiêng đi
    như một người tù. Song, ông ta lại ra hiệu cho tôi biết, tôi sẽ được ăn uống đầy đủ và sẽ được
    đối đãi tốt. Thấy vậy, một lần nữa, tôi muốn dứt những dây trói. Nhưng nghĩ đến nhưng mũi
    tên cắm tua tủa trên mặt và tay, nay nhiều nốt đã sưng vù và còn nhiều mũi tên vẫn cắm chặt
    vào thịt, tôi đành quyết định phải quy phục không điều kiện. Thế là viên Hurgo và đoàn tùy
    tùng rút lui với những lễ nghi rất lịch sự. Một lát, tôi nghe thấy tiếng hò reo, mấy tiếng: peplom
    selan luôn luôn được nhắc lại. Tôi cảm thấy một đoàn người rất đông đang nới bớt dây trói cho
    tôi ở phía sườn bên trái. Thế là tôi có thể quay mình sang bên phải, cứ thế đái một bãi to
    tướng, nhẹ hẳn người. Những người xung quanh hết sức ngạc nhiên, họ thấy tôi cử động và
    đoán được tôi sẽ làm gì, nên tức khắc giạt ra hai bên để tránh con suối cứ tồ tồ và dữ dội phun
    ra từ người tôi. Trước đó, họ xoa lên mặt và tay tôi một thứ dầu thơm mát, làm cho chỉ vài
    phút sau những vết thương dịu hẳn đi. Đã dễ chịu như thế, lại thêm một bữa ăn uống no nê,
    nhiều chất bổ, nên tôi buồn ngủ díp mắt lại. Tôi đánh một giấc tám tiếng đồng hồ liền - sau này
    người ta bảo tôi như vậy. Cái đó chẳng có gì lạ, bởi vì, theo lệnh của nhà vua, thầy thuốc đã pha

    thuốc ngủ vào hai thùng rượu.
    Hình như vừa thấy tôi nằm ngủ trên bờ biển, người ta báo tin ngay cho đức vua. Hội đồng
    họp và quyết nghị tôi sẽ bị trói như đã kể bên trên (tôi bị trói lúc ban đêm, khi tôi ngủ li bì),
    thức ăn và đồ uống được đưa đến cho tôi và người ta chuẩn bị một cái xe để chở tôi về thủ đô.
    Theo tôi, quyết định cuối cùng này táo bạo và nguy hiểm. Và tôi tin rằng, trong những trường
    hợp tương tự, không một ông vua nào ở châu Âu dám làm như thế cả. Song, theo tôi nghĩ, đó là
    một hành động khôn ngoan và độ lượng. Bởi vì, giả dụ những người tí hon này định giết tôi
    bằng cung tên và giáo mác trong lúc tôi ngủ, tôi có thể bị đau mà thức dậy, lúc ấy, tôi sẽ phát
    cáu lên, và sức khỏe có thể tăng gấp bội, đủ để dứt tung dây trói. Thế là, họ đâu có đủ sức chống
    lại tôi, họ có thể bị giết sạch.
    Những người tí hon là những nhà toán học tuyệt vời và có một kỹ thuật hoàn hảo, bởi vì đức
    vua của họ vốn nổi tiếng là ưu đãi các nhà khoa học, thường khuyến khích nghiên cứu các công
    trình kỹ thuật. Vua có nhiều máy đặt trên bánh xe để chuyên chở gỗ và các đồ vật nặng khác.
    Nhiều khi, vua cho đóng tàu chiến lớn ở ngay trong rừng (có những chiếc tàu dài tới chín mươi
    foot5) và cho vận chuyển đến tận biển, cách đó có khi tới một trăm rưỡi hay hai trăm fathom.
    Năm trăm thợ mộc và kỹ sư tức khắc được huy động để làm ngay một cái máy đồ sộ nhất. Đó
    là một cái khung bằng gỗ, cao hơn mặt đất ba inch dài chừng bảy foot, rộng bốn foot, đặt trên
    hai mươi hai bánh xe. Những tiếng hò reo tôi nghe thấy lúc nãy là do người ta thấy cái máy ấy
    được chuyển tới. Cái máy được hoàn thành không quá bốn tiếng đồng hồ. Người ta đặt nó song
    song với chiều tôi nằm. Điều khó nhất là nhấc được tôi và đặt lên xe. Hai mươi hai cái cọc cao
    một foot đã được nối bằng những cái móc, móc vào nhưng dây băng dài quấn quanh cổ, tay,
    chân và mình tôi. Chín trăm người được lựa chọn cẩn thận, có trách nhiệm kéo những dây
    thừng buộc vào cột có bánh xe. Thế là chưa đến ba tiếng đồng hồ, người ta nhấc được tôi lên và
    đặt trên xe, rồi trói chặt tôi lại. Tất cả những câu chuyện này, về sau tôi được nghe kể lại, bởi vì
    lúc ấy tôi ngủ li bì. Một nghìn rưỡi con ngựa khỏe nhất của vua - mỗi con cao chừng bốn inch
    rưỡi - kéo tôi về thủ đô, ở cách đấy một nửa dặm, như tôi đã nói.
    Chúng tôi lên đường được chừng bốn giờ thì bất thần một việc làm ngu ngốc đánh thức tôi
    dậy. Lúc ấy, chiếc xe dừng lại một lát để sửa một bộ phận bị trục trặc, ba hay bốn cậu thanh
    niên tò mò muốn xem tôi lúc ngủ. Các cậu leo lên xe, rón rén tiến đến mặt tôi. Một cậu - một sĩ
    quan cận vệ - lấy ngọn giáo thọc khá sâu vào lỗ mũi bên trái của tôi. Tôi thấy buồn buồn như có
    cọng rơm cù lỗ mũi, liền hắt hơi một cái. Thế là các cậu nhanh nhẹn lủi mất. Ba tuần lễ sau tôi
    mới biết tôi bị đánh thức dậy như thế nào. Suốt ngày hôm ấy, chúng tôi đi như vậy. Đêm đến,
    năm trăm người canh gác tôi, cả bên phải và bên trái, kẻ cầm đuốc, người cầm tên và nỏ, tư thế
    sẵn sàng nhả tên nếu tôi động đậy. Khi mặt trời mọc, chúng tôi lại đi, đến giữa trưa, thì còn
    cách cổng thành chừng một trăm fathom. Hoàng thượng và cả triều đình ra đón chúng tôi
    nhưng các vị tướng cao cấp nhất định không để cho hoàng thượng leo lên mình tôi, sợ nguy
    hiểm đến tính mệnh.
    Nơi cỗ xe đỗ có một ngôi đền cổ, là nơi rộng nhất vương quốc. Cách đây mấy năm, ở nơi này
    xảy ra một vụ giết người gớm ghiếc, nên theo tôn giáo của xứ sở nơi đó bị coi là một nơi uế
    tạp. Bởi vậy, nó chỉ còn dùng vào việc bình thường, mọi vật trang hoàng, bàn ghế đều bị mang
    đi hết. Đấy, tôi phải ở nơi như thế. Cái cổng lớn quay về phương bắc, cao bốn foot, rộng gần hai
    foot tôi có thể bò toài vào một cách dễ dàng. Hai bên cổng có cửa sổ cao hơn mặt đất gần sáu
    inch. Những thợ rèn của nhà vua đã luồn qua cửa sổ bên trái chín mươi mốt cái xích to bằng
    dây đeo đồng hồ của phụ nữ châu Âu, người ta quấn dây xích vào cổ chân tôi rồi khóa lại bằng
    ba mươi sáu cái khóa. Bên kia đường cái, trước mặt ngôi đền, cách xa chừng hai mười foot, có
    một cái tháp cao ít nhất là năm foot. Vua thường leo lên đấy cùng với các quan đại thần để nhìn
    tôi - sau này người ta kể lại cho tôi biết, bởi vì tôi không thể trông thấy họ. Người ta ước tính
    có đến trên mười vạn dân thủ đô ra ngoại thành để xem tôi. Và mặc dù lính gác ngăn cản, tôi
    tính có đến một vạn người dùng thang leo lên mình tôi. Về sau, một sắc lệnh cấm mọi người
    làm như vậy, ai vi phạm sẽ bị xử tử. Khi những người thợ chắc chắn rằng tôi không thể dứt
    xiềng xích ra được, người ta mới cởi mọi dây trói. Thế là tôi ngồi dậy, lòng buồn tê tai. Thấy tôi

    ngồi dậy, mọi người tỏ vẻ sửng sốt
    và ngạc nhiên không sao tả được.
    Xích quấn chân trái tôi dài khoảng
    sáu foot, khiến tôi không những đi
    lại được một nửa vòng tròn, mà còn
    có thể bò toài được vào ngôi đền và
    nằm dài trong đó.

    CHƯƠNG 2
    Vua nước Lilliput và đoàn tùy tùng quý tộc đến thăm tác giả lúc bị giam cầm - Miêu tả đức
    vua, con người và y phục - Những nhà bác học được chỉ định để dạy tiếng Lilliput cho tác giả Vì tính tình hiền hậu, tác giả được ưu đãi người ta khám xét túi áo, kiếm và súng lục bị tịch thu.
    Đứng dậy, tôi nhìn chung quanh, phải công nhận rằng tôi chưa hề thấy cảnh tượng nào xinh
    xắn nhường ấy. Vùng chung quanh giống như một khu vườn, đồng ruộng mỗi bề bốn mươi
    foot, có rào bao vây, trông như những luống hoa. Xen vào đồng ruộng là những khu rừng thưa
    rộng chừng nửa cây sào, cây to nhất hình như cao không quá bảy foot. Bên trái là thành phố,
    giống như một bức tranh trang trí ở rạp hát.
    Đã hàng mấy giờ, tôi ra sức chống chọi với nhu cầu của tự nhiên. Chẳng có gì lạ, bởi vì đã gần
    hai ngày trời, tôi chưa được giải phóng cái bụng. Nửa vì cần thiết, nửa vì xấu hổ, tôi không biết
    làm thế nào. Tốt hơn hết là bò toài vào trong nhà và ở lỳ trong ấy. Tôi bò cho đến hết dây xích
    và phóng cái chất ô uế ở trong bụng ra ngoài. Đây là lần duy nhất trong đời. tôi làm một việc
    bẩn thỉu như vậy. Nhưng rồi chẳng thể không nghĩ rằng, bạn đọc yêu mến sẽ tha thứ cho tôi,
    sau khi suy nghĩ nghiêm chỉnh và vô tư về hoàn cảnh của tôi và cái bi đát trong trường hợp
    này. Từ hôm ấy, tôi tập thói quen làm cái nhu cầu tự nhiên ấy vào lúc mới dậy, ở giữa trời, sau
    khi đi hết sợi xích. Mỗi sáng người ta xúc cái của quý ấy vào mấy cái xe đóng kín. Hai người tí
    hon được chỉ định làm việc này. Tôi sẽ không miêu tả dài dòng việc này, thoạt đầu có vẻ chẳng
    quan trọng vì: nếu tôi không coi là cần thiết phải làm cho mọi người có một ý niệm chính xác
    về đức tính sạch sẽ của tôi. Bởi vậy, người ta kể rằng có những kẻ muốn ám hại tôi, thích thú
    làm cho mọi người nghi ngờ cái đức tính này của tôi.
    Việc xong xuôi, tôi ra khỏi nhà hít thở
    không khí mát mẻ. Vua đã từ trên tháp
    bước xuống, ngài cưỡi ngựa, tiến về phía
    tôi. Ngài suýt phải trả một giá đắt. Mặc
    dù con ngựa rất tinh khôn, nhưng nó
    chưa hề trông thấy con quái vật như tôi.
    Trước cái núi biết động đậy, nó lồng lên.
    Đức vua, mặc dù cưỡi ngựa tài giỏi, chỉ có
    thể ngồi trên yên cho đến khi đoàn người
    hầu chạy đến ghì ngựa lại. Khi ngài đã
    xuống ngựa, ngài ngắm nhìn tôi, vẻ rất
    khâm phục, nhưng vẫn đứng ngoài tầm
    với của tôi. Ngài ra lệnh cho những tay
    đầu bếp và những người hầu mang cỗ
    bàn, rượu thịt ra cho tôi. Tức khắc, mấy xe được- chở đến. Tôi nhanh nhảu mang mọi thứ
    xuống. Khoảng hai chục xe chất đầy thịt và một chục xe chở nước uống. Mỗi xe thịt tôi ăn hai,
    ba miếng là hết, tôi đổ mười cái chum sứ chứa trong một xe vào miệng và tu một hơi. Những
    xe khác, tôi cũng làm như vậy. Hoàng hậu và các hoàng tử, công chúa, cùng đoàn nữ tì, dừng lại
    khá xa trên kiệu.
    Khi xảy ra cái việc không hay cho con ngựa của vua, họ mới bước cả xuống đất và đến bên
    vua mà tôi xin miêu tả bây giờ. Vua cao hơn tất cả triều thần một cái móng tay của tôi, như thế
    cũng đủ làm cho mọi người phải khiếp sợ. Nét mặt cương nghị và cường tráng, cái miệng kiểu
    dân nước Áo, mũi khoằm, nước da ngăm ngăm, dáng đứng thẳng, thân mình, tay chân cân đối,
    cử chỉ duyên dáng và tư thế oai nghiêm. Ngài hai mươi tám tuổi, đã qua tuổi hoa niên và đã trị
    vì bảy năm đầy hạnh phúc, bởi vì ngài chỉ có chiến thắng. Để nhìn ngài được rõ hơn, tôi nằm
    nghiêng, mặt tôi ngang với mặt ngài. Ngài đứng cách tôi chỉ một fathom rưỡi. Song, từ ngày ấy,
    đã biết bao lần tôi cầm ngài trong tay, nên tôi miêu tả ngài chả thể sai lầm được. Y phục của

    ngài rất giản dị, cắt kiểu nửa châu Âu, nửa châu Á. Ngài đội một cái mũ bằng vàng nạm ngọc,
    cắm một cái lông chim. Ngài cầm trong tay một thanh kiếm, sẵn sàng tự vệ nếu tôi bẻ gẫy xích.
    Kiếm dài tài ba inch, đốc kiếm và bao kiếm bằng vàng nạm kim cương. Giọng nói thanh, rất
    trong và rõ ràng, ngay khi tôi đứng tôi cũng nghe rõ từng tiếng một. Các công chúa cùng các
    cung tần mỹ nữ và triều thần ăn mặc lộng lẫy, nên nơi họ đứng làm ta hình dung như một cái
    váy thêu hoa vàng và bạc, trải xuống đất. Đức vua luôn miệng nói chuyện với tôi và tôi đáp lại,
    nhưng chúng tôi không hiểu nhau đến một tiếng. Một số nhà tu hành và luật gia (tôi đoán vậy,
    theo y phục của họ) dự vào câu chuyện của chúng tôi. Họ được lệnh nói chuyện với tôi, tôi đáp
    lại bằng tất cả mọi thứ tiếng mà tôi biết loáng thoáng, tiếng Đức bình dân, tiếng Đức bác học,
    tiếng Latin, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng ý, tiếng pha tạp Franca6 nhưng đều vô hiệu.
    Khoảng hai giờ sau, các vị rút lui. Tôi được một đội cận vệ canh giữ không cho đám người đông
    đảo hỗn xược và độc ác cứ định đổ ào vào tôi. Có kẻ táo bạo nhằm bắn tôi mấy mũi tên lúc tôi
    ngồi ở bậc cửa, có mũi suýt trúng mắt trái. Viên sĩ quan chỉ huy tức khắc cho bắt sáu kẻ cầm
    đầu, và nghĩ rằng cách trừng phạt tốt nhất là trói họ lại, nộp cho tôi. Những người lính lấy ngọn
    giáo đẩy họ vào đến tầm với của tôi. Tôi túm lấy cả bọn, nhét năm chú vào túi áo. Còn chú thứ
    sáu, tôi làm ra vẻ muốn nhai sống. Chú ta thét lên khủng khiếp. Viên sĩ quan chỉ huy và các sĩ
    quan khác rất lo lắng nhất là khi thấy tôi rút con dao ở túi ra. Nhưng họ hết sợ hãi ngay khi
    thấy tôi nhẹ nhàng cắt dây trói và khẽ đặt chú ta xuống đất. Chú ta chạy bán sống bán chết. Tôi
    móc ở túi ra từng chú một và làm y hệt như vậy. Tôi nhận thấy vẻ xúc động mạnh mẽ trên nét
    mặt những người lính và dân chúng trước lòng rộng lượng của tôi. Câu chuyện này đến tai vua
    cùng triều đình, và có lợi cho cuộc đời tôi sau này.
    Tối đến, tôi buồn bã trườn vào căn nhà
    và nằm dài trên đất. Cứ như vậy độ mười
    lăm ngày. Trong khi đó, vua hạ lệnh đóng
    cho tôi một cái giường. Sáu trăm cái nệm
    giường bình thường được mang đến và
    chất trong nhà. Một trăm năm mươi cái
    khâu liền với nhau đủ làm nệm cho tôi.
    Người ta chất bốn tầng nệm như thế, gọi
    là tạm đủ để tôi khỏi phải nằm trên nền
    đá cứng. Họ còn tính toán, làm cho tôi
    khăn trải giường, chăn đắp, chăn phủ
    chân, khá dễ chịu cho những kẻ như tôi,
    từ lâu nay vẫn phải gối đất nằm sương.
    Cái tin tôi đến xứ sở này đã lan tràn
    vương quốc. Những người giàu có, nhàn
    rỗi hay tò mò đến xem tôi đông vô kể.
    Làng mạc khắp xứ vắng tanh vắng ngắt.
    Nếu đức vua không ngăn chặn trước bằng
    những pháp lệnh cần thiết thì việc đồng
    áng và cuộc sống hằng ngày sẽ bị thất
    thiệt nhiều. Những ai đã được thấy tôi
    phải trở về nhà ngay và không được đến
    gần tôi quá hai mươi lăm fathom nếu
    không có giấy phép đặc biệt. Vì vậy, các vị
    tổng trưởng tha hồ kiếm chác.
    Trong khi đó, vua mở nhiều hội nghị
    thảo luận cách đối xử với tôi. Sau này, tôi
    được một người bạn chí thiết - một viên
    quan quý tộc biết mọi bí mật - cho biết
    triều đình rất lúng túng. Một mặt, họ sợ tôi có thể bẻ gẫy xiềng xích, mặt khác, họ sợ việc nuôi
    tôi tốn kém quá, có thể gây nên nạn đói trong nước. Có lúc họ thiên về ý định để mặc cho tôi
    chết đói, hoặc ít nhất cũng bắn nhưng mũi tên tẩm thuốc độc vào mặt, vào tay tôi cho tôi chết.

    Nhưng như vậy cái xác khổng lồ của tôi thối rữa ra, có thể gây nên nạn dịch trong thành phố,
    rồi lan ra toàn quốc. Giữa lúc bàn cãi ấy, mấy viên sĩ quan đến trình diện ở cái cửa lớn của
    phòng hội nghị, hai người được đưa vào phòng, kể lại đầu đuôi sự việc đã xảy ra với sáu kẻ dại
    dột như tôi trình bày bên trên. Báo cáo này làm đức vua và tất cả hội nghị xúc động, vì vậy vua
    ban lệnh ngay tức khắc: những người ở năm trăm fathom chung quanh thành phố có nhiệm vụ
    cung cấp mỗi sáng sáu con bò, bốn mươi con cừu và các thứ thịt khác, với một tỷ lệ tương ứng
    bánh mì, rượu vang và đồ uống khác. Vua sẽ phát phiếu ngân khố để trả tiền số lương thực,
    thực phẩm ấy. Vua sống về lợi tức đất đai riêng của mình, chỉ khi có những sự việc lớn mới thu
    thuế của thần dân. Người dân phải đóng góp và phụng sự nhà vua những khi có chiến tranh.
    Riêng tôi được sáu trăm người hầu hạ, những người này được hưởng lương bổng. Hai bên cửa
    nhà tôi, người ta căng những lều vải cho họ ở, rất thuận tiện. Ba trăm thợ may được lệnh may
    cho tôi một bộ quần áo kiểu xứ sở, và sáu nhà bác học uyên thâm bậc nhất sẽ dạy tôi học tiếng
    Lilliput. Sau cùng, ngựa của vua và của cả hoàng tộc thường được dắt đến gần tôi để chúng
    trông cho quen mắt. Tất cả các lệnh được nghiêm chỉnh chấp hành. Chỉ ba tuần lễ, tôi đã tiến
    bộ nhiều trong việc học tiếng địa phương. Thời gian đó, đức vua hạ cố đến thăm tôi luôn và
    ngài rất vui thích giúp đỡ các giáo sư của tôi. Chúng tôi bắt đầu trao đổi với nhau được vài ba
    câu chuyện. Những tiếng tôi học đầu tiên là để: "Xin hoàng thượng cho tôi được tự do". Hằng
    ngày , tôi quỳ xuống nhắc lại lời van xin ấy. Vua đáp lại rằng - tôi cố gắng hết sức để hiểu được
    như vậy - "Đó là vấn đề thời gian, và không thể giải quyết nếu không có ý kiến của Hội đồng và
    trước hết tôi phải "lumos Kelmin pesso desmar lon Emposo", tức là phải tuyên thệ gìn giữ hòa
    bình với vua và xứ sở của Ngài. Trong khi chờ đợi, tôi được đối xử rất tốt. Ngài khuyên tôi nên
    lấy lòng kiên trì và đức hạnh mà chinh phục lòng yêu mến của Ngài và của dân chúng. Ngài tỏ ý
    muốn tôi chớ phật lòng khi có lệnh cho những viên chức có thẩm quyền...
     
    Gửi ý kiến